Quốc sử Quán vOz - Page 216 - vozForums
vozForums

Go Back   vozForums > Khu vui chơi giải trí > Chuyện trò linh tinh™


Reply
 
Thread Tools
  #2151  
Old 16-02-2016, 21:57
Joby90 Joby90 is offline
Senior Member
 
Join Date: 05-2010
Posts: 829
Re: Quốc sử Quán vOz

Quote:
Originally Posted by nvh92 View Post

Tương tự như thế trong nghệ thuật thời Lý - Trần ảnh hưởng của Champa rất rõ nét, bạn nếu có điều kiện tìm đọc các cuốn Lược sử mỹ thuật Việt Nam, Mỹ thuật và kiến trúc Phật giáo, Văn hóa cổ Chămpa




Đồng ý với bác cả cmt này ngoại trừ đoạn này. Từ nhiều năm trước khi công tác khảo cổ các di tích kiến trúc Lý Trần với các hiện vật lạ mắt không giống sau này cũng không giống Trung Quốc hiện tại, trong khi công tác khảo cổ các di tích Champa đã diễn ra từ rất nhiều năm, người ta có xu hướng cho rằng mỹ thuật Lý Trần ảnh hưởng từ mỹ thuật Champa, 1 phần vì cái tinh thần bài Tàu, 1 phần vì luận điểm thợ Champa xây cái này cái nọ dù thực tế sử sách không hề ghi tù nhân Champa xây cái gì cả, chỉ ghi vũ công được đưa vào cung còn tù nhân được cấp đất sinh sống, khai khẩn...
Nhiều năm gần đây khi HTTL được trở thành di sản thế giới, người ta mới nhìn nhận mỹ thuật Lý Trần 1 cách khách quan, công bằng hơn, đặt trong mối so sánh đồng đại với cả TQ, Champa, Nhật Bản,... Và người ta thấy rằng mỹ thuật Lý Trần thực tế là mang ảnh hưởng của mỹ thuật Đường Tống hơn là Champa. Ví dụ như hình tượng vị thần nửa người nửa chim chơi nhạc vốn được gọi là kinnari/kinnara do ảnh hưởng của Champa nhưng thật ra đó là kalavinka trong mỹ thuật Đông Bắc Á với đặc điểm chơi các loại nhạc cụ, dâng hoa... Như garuda (Kim Sỹ Điểu) cũng mang hình dáng garuda bụng phệ trong mỹ thuật Tây Tạng, Đường, Tống,.. Ngay trong hình trên sẽ thấy cả các apsara hay kalavinka quấn dải phi phong thời Đường, thậm chí con rồng thời Lý truy nguyên so sánh với rồng Đông Bắc Á cùng thời như Đại Lý, Tây Hạ, Liêu, Tống, Nhật, Cao Ly... thì có nhiều nét chung đặc biệt là cái vòi của con makara,...
Reply With Quote
  #2152  
Old 16-02-2016, 22:02
nvh92's Avatar
nvh92 nvh92 is offline
Đã tốn tiền
 
Join Date: 05-2012
Posts: 2,844
Re: Quốc sử Quán vOz

Quote:
Originally Posted by Joby90 View Post
Đồng ý với bác cả cmt này ngoại trừ đoạn này. Từ nhiều năm trước khi công tác khảo cổ các di tích kiến trúc Lý Trần với các hiện vật lạ mắt không giống sau này cũng không giống Trung Quốc hiện tại, trong khi công tác khảo cổ các di tích Champa đã diễn ra từ rất nhiều năm, người ta có xu hướng cho rằng mỹ thuật Lý Trần ảnh hưởng từ mỹ thuật Champa, 1 phần vì cái tinh thần bài Tàu, 1 phần vì luận điểm thợ Champa xây cái này cái nọ dù thực tế sử sách không hề ghi tù nhân Champa xây cái gì cả, chỉ ghi vũ công được đưa vào cung còn tù nhân được cấp đất sinh sống, khai khẩn...
Nhiều năm gần đây khi HTTL được trở thành di sản thế giới, người ta mới nhìn nhận mỹ thuật Lý Trần 1 cách khách quan, công bằng hơn, đặt trong mối so sánh đồng đại với cả TQ, Champa, Nhật Bản,... Và người ta thấy rằng mỹ thuật Lý Trần thực tế là mang ảnh hưởng của mỹ thuật Đường Tống hơn là Champa. Ví dụ như hình tượng vị thần nửa người nửa chim chơi nhạc vốn được gọi là kinnari/kinnara do ảnh hưởng của Champa nhưng thật ra đó là kalavinka trong mỹ thuật Đông Bắc Á với đặc điểm chơi các loại nhạc cụ, dâng hoa... Như garuda (Kim Sỹ Điểu) cũng mang hình dáng garuda bụng phệ trong mỹ thuật Tây Tạng, Đường, Tống,.. Ngay trong hình trên sẽ thấy cả các apsara hay kalavinka quấn dải phi phong thời Đường, thậm chí con rồng thời Lý truy nguyên so sánh với rồng Đông Bắc Á cùng thời như Đại Lý, Tây Hạ, Liêu, Tống, Nhật, Cao Ly... thì có nhiều nét chung đặc biệt là cái vòi của con makara,...
Cái đó mình cũng đã biết rồi, ở đây mình nói mỹ thuật Champa cũng có ảnh hưởng nhất định tới thời Lý - Trần và có thể nhận ra các ảnh hưởng đó trong các di sản còn lại, chứ không nói là ảnh hưởng mạnh hoặc hoàn toàn chủ đạo

Last edited by nvh92; 16-02-2016 at 22:05.
Reply With Quote
  #2153  
Old 16-02-2016, 22:03
nvh92's Avatar
nvh92 nvh92 is offline
Đã tốn tiền
 
Join Date: 05-2012
Posts: 2,844
Re: Quốc sử Quán vOz

mà chán quá có vẻ bài viết của mình bên f33 ít được xem rồi ở bên đó tới thớt vật lý khó nhằn còn đông hơn của mình

Last edited by nvh92; 16-02-2016 at 22:05.
Reply With Quote
  #2154  
Old 17-02-2016, 00:17
I.Love.You.Edf's Avatar
I.Love.You.Edf I.Love.You.Edf is offline
Đã tốn tiền
 
Join Date: 12-2014
Location: 590947F1
Posts: 7,083
Re: Quốc sử Quán vOz

Quote:
Originally Posted by nvh92 View Post
Lược sử bản đồ Việt Nam
JOHN K. WHITMORE
Bản đồ Việt Nam ở các giai đoạn lịch sử đã cho chúng ta hiểu biết về lãnh thổ Việt Nam qua từng thời kỳ khác nhau.


Việc nghiên cứu và vẽ bản đồ tại Việt Nam chỉ bắt đầu vào khoảng 5 thế kỷ trước. Bất cứ ai muốn tìm hiểu về lịch sử nghành bản đồ học của Việt Nam đều phải tiến hành tìm tòi một cách rất sâu rộng để thu thập các mảnh ghép từ khối thông tin tản mát, đa dạng để hiểu được truyền thống nghành bản đồ học của Việt Nam bắt đầu ra sao.
1) Khởi sơ của bản đồ Việt Nam.

Vào 2 thời Lý (1009–1225) và thời Trần (1225 - 1400) mặc dù có ghi chép về hoạt động vẽ bản đồ nhưng không còn có bất kỳ tài liệu về bản đồ hay hiện vật bản đồ nào còn tồn tại được.

Việc làm ra các bản đồ quốc gia chỉ bắt đầu (Hay ít nhất là được ghi nhận và có hiện vật còn lại) từ thời Lê Sơ (1428 - 1527), triều đại sau đó là nhà Mạc (1527 - 1592) có vẻ như cũng tiến hành một số hoạt động về đo đạc và vẽ bản đồ; nhưng các hiện vật bản đồ cổ nhất tới nay thể hiện cho việc đã từng tồn tại hoạt động đo đạc và vẽ bản đồ được tìm thấy vào thời Lê Trung Hưng (1592 – 1787).
Hoạt động đo đạc và vẽ bản đồ cuối cùng trước thời tiền hiện đại của Việt Nam thuộc về nhà Nguyễn. Ta không có nhiều thông tin về việc bao nhiêu bản đồ đã được làm ra trong suốt lịch sử.

Cách thiết kế bản đồ của Việt Nam về cơ bản giống như của Trung Quốc, nó phát triển song song cùng với mô hình Nho giáo lấy hình mẫu từ Trung Quốc ở Việt Nam trong giai đoạn từ thế kỷ XV tới XVII.

Thuật ngữ bản đồ của người Việt được biến thể cách đọc từ chữ Đồ (图) trong Hán tự, chữ Đồ (图) này rất đa nghĩa, nó có thể là tranh vẽ, hoạt động vẽ, cương vực, lãnh thổ….và khi ghép với một số từ khác nó thành bantu (Bản đồ -版图), ditu (Địa đồ -地图), yutu (Dư đồ -輿图), quantu (Toàn đồ - 全圖).

2) Bản đồ Đại Việt

Bản đồ trở nên quan trọng hơn với người Việt khi triều đình Đại Việt thời Lê Sơ ngày càng đi theo xu hướng độc tôn Nho học. Trong hơn nửa thế kỷ đầy biến động sau năm 1370 (Các cuộc xâm lược của Champa thời kỳ cuối nhà Trần 1371 – 1390, nhà Hồ 1400 – 1407 và sự chiếm đóng của nhà Minh 1407 – 1427), Lê Lợi một hào trưởng ở Lam Sơn đã nổi dậy đánh đổ sự chiếm đóng của quân Minh lập ra triều đại mới, triều đại này lại vẫn có xu hướng duy trì các giá trị xưa cũ. Các hoàng đế mới của triều đại này cực kỳ quan tâm tới việc xây dựng và đảm bảo chế độ trung ương tập quyền. Cùng lúc đó họ du nhập hệ tư tưởng Minh Nho từ Trung Hoa qua các trung gian là tầng lớp Nho sĩ trẻ.

Năm 1467, hoàng đế Lê Thánh Tông ban lệnh xuống cho 13 đạo thừa tuyên trong cả nước tiến hành vẽ toàn đồ quốc gia. Theo lệnh được ban các quan chức đại phương bắt đầu tiến hành vẽ một cách cẩn thận hình thế khu vực họ chuyên trách, miêu tả núi đồi, sống suối, các khu vực chiến lược, các tuyến đường giao thông, các đại điểm lịch sử.

Những bản đồ địa phương này sau đó được gửi về kinh đô Thăng Long, nơi mà ở đó năm 1469 chúng bắt đầu được tổng hợp lại rồi kết hợp với các tư liệu sẵn có trước đó để cho ra bộ bản đồ chính thức về 12 đạo thừa tuyên trong cả nước, lãnh thổ quốc gia, kinh đô…

Nhưng cũng phải tới 21 năm sau đó vào năm 1490, hoàng đế Lê Thánh Tông mới chấp nhận và chính thức tuyên bố “Thiên hạ bản đồ” trở thành bộ bản đồ chính thống của Đại Việt. Lúc này “Thiên hạ bản đồ” không còn chỉ thể hiện 12 đạo thừa tuyên nữa mà phải mở rộng thêm 1 đạo Quảng Nam vốn là các vùng đất chiếm được của Chiêm Thành trong cuộc chinh phạt năm 1479 do đích thân Lê Thánh Tông ngự giá thân chinh. Cái tên “Thiên hạ bản đồ” sau này ít được người ta nhắc tới mà thay vào đó là cái tên “Hồng Đức bản đồ”( 洪德版圖).

Dẫu rằng có ghi chép khá rõ về việc làm bản đồ thời kỳ này nhưng cũng như thời Lý – Trần trước đó, hầu như không có hiện vật bản đồ nào còn tồn tại được tới nay, tất cả các bản đồ giúp ta có thể liên tưởng tới các bản đồ gốc thì đều thuộc các bản sao chép thế kỷ 17 – 18 , thậm chí bộ “Hồng Đức bản đồ” cũng chỉ còn tồn tại qua các bản sao chép, bản gốc đã thất truyền từ lâu.

Các bản sao chép lại Tập bản đồ Hồng Đức còn lại đến ngày nay, được gọi đầy đủ là “Hồng Đức nhị thập nhất niên tứ nguyệt sơ lục nhật “ (洪德貳拾壹年肆月初陸日), gồm 15 tấm bản đồ và những phần chữ thuyết minh, chú giải cho bản đồ.
15 tấm bản đồ đó bao gồm 1 Bản đồ cả nước, 1 tấm bản đồ kinh đô Thăng Long ; 13 bản đồ của 13 sứ thừa tuyên đương thời.

Về nét vẽ thì các con sông được vẽ với ký hiệu sóng nhỏ, biển được vẽ với các nét sóng to, núi non vẫn được vẽ với phong cách đơn giản nhưng có thêm các nét vẽ cảnh quan thiên nhiên. Các công trình nhân tạo như nhà cửa, thành trì, cung điện… cũng được vẽ, các yếu tố khác được xác định nhờ các ghi chú trên bản đồ. Mục đích chính của tập bản đồ này là hành chính và do vậy họ ghi chép các khu vực địa lý hành chính như tỉnh quận huyện vào các ô vuông trên bản đồ.


Bản đồ Đại Việt thời Lê trong "Hồng Đức bản đồ", thực chất đây là bản sao chép có chỉnh sửa vào thời Lê Trung Hưng (Khoảng thế kỷ 17) từ bản đồ gốc vào thế kỷ 15 thời Lê Sơ. (Trên cùng là hướng Tây, dưới cùng là hướng Đông)


Bản đồ của Đại Việt này thể hiện cả đường biên giới quốc gia phía Bắc và Nam với Trung Hoa và Champa. Phía Tây Bắc bản đồ thể hiện tỉnh phía Tây Nam của Trung Hoa là Vân Nam, phía Đông Bắc thì thể hiện tỉnh phía Đông Nam Trung Hoa là Quảng Đông và Quảng Tây, được đánh dấu bởi bởi hình ảnh thành trì và chú thích là “Đất của Bách Việt” và “Đất nhà Triệu của Triệu Đà”.

Hai kinh đô khi đó trên bản đồ thể hiện là Trung Đô (Thăng Long, kinh đô chính trị và kinh tế) và Tây Kinh (Kinh đô trên tên gọi, thực ra là một thành phố lớn thì đúng hơn, bởi nó là nơi phát tích nhà Lê, thuộc khu vực tỉnh Thanh Hóa ngày nay). Trên bản đồ hình ảnh đền thờ phản ánh một cấu hình nghi lễ tâm linh. Ở trung tâm là đền thờ Lý Ông Trọng ngoại vi Thăng Long, đây là nhân vật anh hùng huyền thoại của người Việt đã có công giúp Tần Thủy Hoàng đánh bại quân Hung Nô. Tây, Bắc Đông, Nam của kinh đô là vị trí các đền thờ Phật như Phả Lại, Quỳnh Lâm, Phổ Minh, Phật Tích.



Bản đồ Thăng Long trong “Hồng Đức bản đồ”, tuy nhiên đây vẫn là bản sao chép lại vào thế kỷ 17 từ bản đồ gốc thế kỷ 15, bởi vậy ta chưa thể kết luận rằng Thăng Long thế kỷ 15 thời Lê Sơ giống như bản đồ này miêu tả. (Trên cùng là hướng Bắc, dưới cùng là hướng Nam).

Chú thích cụ thể (Đây là phần bổ sung của người dịch, mặc dù đã cố gắng hết sức có thể để dịch nhưng do bản đồ đã quá cao tuổi và sự hạn chế về tư liệu, người dịch chưa chú thích được tất cả mọi địa điểm):
1.Thăng Long thành; 2.Vạn Thọ điện; 3.Kính Thiên điện; 4.Thị triều; 5.Ngọc Hà; 6.Đoan môn
7.Đông cung; 8.Phụng Tiên điện; 9.Đông Trang an; 10.Tây Trang an; 11.Chùa Khán Sơn ; 12.Linh Lang từ; 13.Giảng Vũ điện
14.Hội Thi trường; 15.Bảo Khánh môn; 16.Nam môn; 17.Đông môn; 18.Bạch Mã từ; 19.Sông Tô Lịch; 20.Quảng Đức huyện;
21.Cơ Xá châu; 22.Giáp Kinh bắc; 23.Thiên Đức giang; 24.Bắc giáp Sơn Tây giới; 25.Vạn Bảo châu; 26.Nhị Hà; 27.Chấn Vũ quán;
28.Tây Hồ; 29.Tây giáp Sơn Tây giới; 30.Giáp Sơn Tây; 31.Thiên Phù giang; 32.Quốc tử giám;
33.Phụng Thiên phủ; 34.Báo Thiên tháp; 35.Vương phủ; 36.Hoàn Kiếm hồ; 37.Phù sa châu; 38.Thọ Xương huyện;
39.Tư Thiên giám; 40.Đại hồ; 41.Lâm Khang cống khẩu; 42.Nam Giao điện; 43.Đông giáp Kinh Bắc giới; 49.Nam giáp Sơn Nam giới.


Trong bộ “Hồng Đức bản đồ” này, bản đồ của kinh thành Thăng Long như nhà nghiên cứu Hoàng Đạo Thúy nói cho ta thấy được đời sống thường nhật cũng như đời sống thương mại của thành phố này thời Lê.

Hình dáng của phần ngoại vi kinh đô không đồng đều và bị chia cắt bởi sông ngòi, hồ nước, Tử Cấm thành bên trong thành dược xây theo trục Nam – Bắc vốn là hướng kiến trúc quen thuộc của văn hóa Á Đông, bên ngoài bức tường của Tử Cấm thành là tháp Bảo Thiên (Hoặc Báo Thiên) và bên cạnh đó là Đàn Nam Giao, đàn tế trời đất mà mọi quốc gia quân chủ Á Đông ảnh hưởng bởi Nho giáo đều phải có, hoàng đế sẽ đến đây tế vào mùa xuân hàng năm. Ngoài ra trong bản đồ còn thể hiện Đền Bạch Mã, đền Trấn Vũ và Quốc tử giám.


Bản đồ trấn Sơn Nam trong Hồng Đức bản đồ, vẫn như trên nó được sao chép có chỉnh sửa vào thế kỷ 17 từ bản gốc . (Trên cùng là hướng Tây, dưới cùng là hướng Đông)

Bản đồ của các trấn quan trọng như Kinh Bắc, Sơn Tây, Hải Dương, An Quảng, Sơn Nam, phản ánh bản chất của các khu vực châu thổ. Chúng ta thấy được các cách gọi ảnh hưởng đậm nét từ việc sống dưới hạ nguồn sông như ngã ba, kênh, cầu, cửa, môn. Còn trong các địa danh tên đất ta thấy các cách gọi như tự (Các chùa thờ Phật), miếu (Các đền nhỏ thờ các nhân vật hoặc yếu tố siêu nhiên), cũng như một số điểm canh gác được gọi là tuần và các di tích lịch sử quan trọng như thành Cổ Loa hay mộ của Cao Biền.

Tháng 6 năm 1527, Mạc Đăng Dung xuất thân từ một võ tướng, đã phế truất Lê Cung Hoàng lên ngôi đế, lật đổ nhà Lê Sơ lập ra nhà Mạc. Nhà Mạc dù vậy vẫn tiếp tục duy trì các thiết chế cũ của nhà Lê mà trọng tâm là thời Hồng Đức.
Với tất cả các bằng chứng sử liệu mà tới nay ta còn có thì nhà Mạc đã duy trì một triều đại ổn định, thịnh vượng mà thậm chí được chính sử sách của kẻ thù là nhà Lê Trung Hưng sau này ghi nhận.

Với sự giúp đỡ của tập đoàn quân phiệt họ Trịnh tới năm 1592 nhà Lê Trung Hưng giành lại được Thăng Long đuổi nhà Mạc chạy lên Cao Bằng, tuy vậy toàn quyền cuối cùng lại rơi hết vào tay họ Trịnh.

Thời gian thống nhất cũng không kéo dài được lâu, vì sau đó họ Nguyễn vốn nguyên gốc là thông gia với họ Trịnh đã đi vào Nam li khai và lập chính quyền riêng tại Quảng Nam, tuyên bố chống lại họ Trịnh ở phía Bắc. Từ đó diễn ra cuộc chiến tranh Trịnh – Nguyễn dài hơn 200 năm, việc vẽ bản đồ thời này không được ghi nhận nhiều từ cả 2 phía, tuy vậy 2 phe cũng đều coi bản đồ từ thời Hồng Đức là khuôn mẫu.

Sự thay đổi lớn về mặt địa lý hành chính của Đại Việt dưới thời Lê – Trịnh đến vào cuối thế kỷ 17 khi họ Trịnh cuối cùng đã tiêu diệt sự cát cứ của họ Mạc tại Cao Bằng. Từ đó dẫn tới việc các bản đồ Cao Bằng được các nhà vẽ bản đồ thời Lê - Trịnh làm ra.

Tới nay chúng ta còn giữ lại được 3 bản đồ nằm trong bộ Hồng Đức bản đồ với tên gọi chung là “Cao Bằng phủ toàn đồ” (高平府全圖). Chúng chắc chắn được vẽ trong khoảng giữa năm 1667 - 1669. Các bản đồ này cho thấy vị trí của dinh trấn Mục Mã (nay là phường Hợp Giang, thành phố Cao Bằng) và vị trí của thành Cao Bằng khi đó (Nay thuộc huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng).

Bản đồ dinh trấn Mục Mã. (Trên cùng là phía Đông, dưới cùng là phía Tây)

Trên đây là tấm bản đồ đầu tiên và cũng là tiêu biểu nhất, phong cách vẽ khá đơn sơ. Các con sông được vẽ đơn giản và núi cũng chỉ được vẽ với các hình tam giác tương tự như các bản đồ khác thời Lê.
Có một yếu tố khác đó là dấu hiệu của các đường giao thông và đường mòn trong khu vực được vẽ ở bản đồ này. Các đơn vị hành chính thì được trình bày trong hình ovan.

Bên cạnh các miêu tả núi đồi, cảnh quan còn có các miêu tả về các tổng, yếu tố chính của bản đồ là các công trình quân sự: các đồn trại, dinh trấn Mục Mã, tường thành quanh Phục Hòa, 12 điếm canh, 16 trại quân bên trong tường thành, cuối cùng là 5 dãy phố phía Tây dinh trấn.

Các bản đồ còn lại kém chi tiết hơn, tường thành và cảnh quan chỉ được phác họa sơ qua. Những bản đồ này, đã bổ sung thêm thông tin về tỉnh Thái Nguyên trong tập bản đồ thời Lê.

Nhìn chung, truyền thống bản đồ học thời Lê đã cho ta thấy một thời kỳ hùng mạnh của Đại Việt trong lịch sử. Nó xuất hiện trong nhiều dạng thức khác nhau cũng như phong cách nghệ thuật khác nhau suốt thế kỷ 18, 19 và vào trong cả thế kỷ 20.

3) Nhật trình Đại Việt.

Một hình thức quan trọng của bản đồ thời Lê là các tập Nhật trình (Nhật ký đi đường ), nó thường vẽ lại, miêu tả các tuyến đường từ thủ đô tới các vị trí bên trong hoặc bên ngoài đường biên giới Việt phía Bắc – Nam.

Loại bản đồ này dường như bắt đầu với chiến dịch chinh phạt Chiêm Thành năm 1471 của Lê Thánh Tông. “Đại Việt sử ký toàn thư” đã nhắc tới việc Lê Thánh Tông tra cứu các bản đồ để hành quân trong chuyến chinh phạt Champa năm 1471, đồng thời ông cũng tiến hành đặt tên cho các địa danh trên đường đi.

Các nỗi lực này chắc chắn đã đặt nền móng cho sự thiết lập của 4 bộ bản đồ nói về các tuyến đường tới Champa, “Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư” (天南四至 路圖書). Chúng ta không rõ được thời điểm “Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư” được vẽ, dù các ghi chú trên bản đồ được xác định là vào khoảng thế kỷ 17.


Một bản đồ trong “Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư”, bản đồ này cho thấy tuyến đường xuống phương Nam đi qua vùng núi Nam Thanh Hóa – Bắc Nghệ An. Được sao chép vào khoảng thế kỷ 17 từ bản gốc.(Trên cùng là hướng Tây, dưới cùng là hướng Đông)


Đúng như cái tên tập bản đồ này thể hiện 4 tuyến đường với điểm xuất phát từ kinh đô Thăng Long:
- Từ phía Nam tới kinh đô Champa.
- Phía Đông Bắc tới 2 vùng Khâm và Niệm theo chiều dài bờ biển gần biên giới Trung Quốc.
- Phía Tây Bắc tới Tây Nam vùng Vân Nam.
- Phía Bắc thì tới cửa ngõ tỉnh Quảng Tây của Trung Quốc

Một bản đồ đi lên phía Bắc qua Lạng Sơn trong “Thiên nam tứ chí lộ đồ thư”.

“Thiên nam tứ chí lộ đồ thư” đã cho ta thấy các con đường mòn với tính chất như đường quốc lộ, giúp kết nổi cả quốc gia và nhiều thông tin về tự nhiên, con người dọc theo các tuyến đường. Nó cũng cho ta thấy các tuyến đường kết nối quốc tế trên bộ, bỏ mặc tầm quan trọng của các tuyến đường biển. Tuy vậy chúng tôi vẫn nhận thấy, bản đồ này không thể hiện toàn bộ lãnh thổ Việt Nam khi đó.

Những người làm bản đồ thời Lê - Trịnh không có nhiều cơ hội thám hiểm phương Nam hay có các thông tin về phía Nam vì họ Nguyễn cát cứ, người thời đó gọi phía Bắc của họ Lê – Trịnh là Đàng Ngoài còn lãnh thổ phía Nam của họ Nguyễn là Đàng Trong. Tại Đàng Trong, cơ cấu xã hội và văn hóa đa dạng hơn, lãnh thổ của nó cũng mở rộng xuống vùng đất thấp ven biển thông qua lãnh thổ Champa vào miền Khmer, tạo ra các con đường như trước đây.

Để biết rõ hơn thông tin về khu vực phía Nam này thì ta lại cần nhìn vào “Bình Nam Đồ” (Giáp Ngọ niên bình Nam Đồ -甲午年平南圖), nó xuất hiện vào khoảng những năm 1654 theo như phần đề tựa và thông tin trong văn bản, có khả năng được các chúa Nguyễn vẽ; tuy vậy nhà nghiên cứu Tạ Trọng Hiệp lại cho rằng nó bắt đầu được vẽ bởi Đoan Quận Công Bùi Thế Đạt vào năm Cảnh Hưng thứ 35 (1774) sau khi họ Trịnh nhân sự suy yếu của họ Nguyễn đã Nam chinh năm 1774 – 1775, chiếm được khu vực Phú Xuân.


Một bản đồ trong “Bình Nam đồ”, thể hiện khu vực nay thuộc tỉnh Quảng Bình .(Trên cùng là hướng Tây, dưới cùng là hướng Đông)

Chúng tôi đưa ra một ước đoán rằng có thể “Bình Nam Đồ” được Đoan quận công vẽ vào năm 1774 thực, nhưng là dựa trên các bản đồ sẵn có mà các chúa Nguyễn cho vẽ trước kia. Bản đồ này có sự chi tiết hơn về các cứ điểm phòng thủ và vùng quân sự.

Phong cách vẽ cũng có chút khác biệt với các bản đồ vẽ về phía Bắc mà trước đó chúng tôi đề cập, nó có nét vẽ nghệ thuật hơn, trên núi vẽ biểu tượng hình voi dưới biển vẽ biểu tượng con đồi mồi.

Một bản đồ trong “Bình Nam đồ”, thể hiện lãnh thổ Campuchia cùng di tích Angkor và hệ thống sông Mekong. Trong hình Angkor là số (1).(Trên cùng là hướng Tây, dưới cùng là hướng Đông)


Các chi tiết trong bản đồ này về phía Nam ít đi và sang bên kia biên giới thuộc khu vực Campuchia thì càng ít hơn. Trong khi các mối quan hệ về địa lý của vùng Đồng Bằng sông Cửu Long với khu vực Angkor là ngoài phạm vi hiểu biết của các nhà bản đồ học thời đó, họ đã chọn một số chi tiêt thú vị về Campuchia để thể hiện lên mặt giấy.

Khu vực Angkor được thể hiện bằng 1 hình mặt phẳng, vùng biển các kết nối thương mại thuộc vùng Biển Đông với Trung Hoa cũng được nhắc tới, mà Campuchia được ghi nhận như một trạm dừng chân và trung chuyển cho các chuyến hải trình buôn bán xuất phát từ Quảng Đông và Phúc Kiến, phần sông Mê Kông kết nối Lào và Vân Nam cũng xuất hiện. Bản đồ này đã cho thấy một phần của bước đường Nam Tiến, quá trình người Việt tiến xuống phương Nam mở cõi trong thế kỷ 16 – 18, đồng thời cung cấp các dữ liệu thú vị về dân cư, xã hội, thương mại…khu vực Đàng Trong của các chúa Nguyễn.

Các tập bản đồ với các phong cách khác cũng tồn tại trong khoảng thời gian này, kết hợp cùng bản đồ thời Lê, các tập nhật trình hoặc cả 2.

Chúng ta có các cái tên như “Toàn tập thiên Nam lộ đồ thư”( 纂集天南路圖書), “Thiên Nam lộ đồ”( 天南路圖), “Kiền (Càn) khôn nhất lãm” (乾坤一覽) đều là các tập bản đồ và địa dư biến thể của bản đồ và nhật trình thời Lê. Còn dạng biến thể như thế vào thế kỷ 18 ở Đàng Trong có thể kể tới “Bình Nam chỉ chưởng nhật trình đồ” và một lần nữa lại là “Kiền khôn nhất lãm” được vẽ bởi Phạm Đình Hổ, ông dã vẽ ra bản đồ này sau khi theo quân Trịnh vào chiếm Phú Xuân năm 1775 và ông có thể đã xem được các tài liệu địa lý thu được từ chúa Nguyễn.

Hai trong số các bản thảo, “Toản tập thiên Nam lộ đồ thư” và “Bình Nam chỉ chưởng nhật trình đồ”đại diện cho phong cách nhật trình miền Bắc và Nam.

Đều là các bản in khắc gỗ, được minh họa bằng mực đen, với các nét đỏ được dùng để làm nổi bật đường giao thông và các tòa nhà. “Bình Nam chỉ chưởng nhật trình đồ” còn sử dụng các nét phác mờ khi vẽ các dãy núi. Cả 2 chắc chắn là điển hình của phong cách vẽ bản đồ trước thế kỷ 18.


“Đại Man quốc đồ”, (Trên cùng là hướng Bắc, dưới cùng là hướng Nam)


“Đại Man quốc đồ” ( Cảnh Thịnh tân đồ Đại Man quốc - 景盛新圖大蠻國), đây là gần như là bản đồ duy nhất cùng thời với nhà Tây Sơn (1788 – 1802) còn lại tới nay. Bản đồ này vẽ vùng lãnh thổ phía Tây Việt Nam, cụ thể hơn là vùng Hưng Hóa cuối thế kỷ 18. Đất nước được thể hiện trong bản đồ là Thái Lan được nhìn tổng quan từ phía Tây Việt Nam, trải dài từ vùng núi phía Bắc tới miền biển phía Nam.

Trong bản đồ xuất hiện vô số các mường (เมือง- mɯ̄ang) và chiềng (chieng – xieng) là hình thức tổ chức xã hội – hành chính của các cư dân bản địa tương tự như làng - xã - thành phố. Tại trung tâm bản đồ là kinh đô của Đại Man vào thời điểm đó là Ayudhya chứ không phải Bangkok. Trước đây nó là 1 phần của Xiêm La, như bản đồ nói với ta.

Bản đồ này miêu tả bờ biển và cửa sông không chính xác, hướng của bản đồ chạy dọc theo phía Bắc từ bờ biển tới vùng núi. Có 2 con sông được vẽ trong bản đồ đều chạy theo hướng Bắc tới Nam là Mae Nam Yom (Sông Yom) và sông Chao Phraya. Hướng Đông là hệ thống sông Mekong, hướng Tây lại có một con sông nữa, chắc chắn đó là sông Salween (Thanlwin). Ở hướng Đông còn có Xieng Khouang , cố đô của đế quốc Khmer là Angkor và Champa.

Giống như những người làm bản đồ trước đó đã tạo ra “Bình Nam Đồ”, những người làm bản đồ của “Đại Man quốc đồ” cũng gặp khó khắn với lưu vực sông Mekong. Họ không miêu tả được Biển Hồ ở Campuchia và các cửa biển cũng không được miêu tả rõ ràng.

4) Bản đồ Đại Nam

Nghành bản đồ học của Việt Nam có một diện mạo rất mới vào thế kỷ 19, trở nên đậm nét của cả Phương Tây và Trung Quốc hơn nữa. Sự đơn giản và tính chất phác thảo của bản đồ thời Lê Sơ đã bị thay thế bởi các nét ảnh hưởng quốc tế.

Vị Hoàng đế lập ra nhà Nguyễn là Gia Long (1762 – 1820), mặc dù có quan hệ với Phương Tây nhất định nhưng ông về cơ bản là vị hoàng đế của Nho giáo, vì vậy ông vẫn cố gắng xây dựng và củng cố hệ tư tưởng Nho giáo tại Việt Nam dưới thời Nguyễn, thậm chí còn hơn cả dưới thời Lê Thánh Tông. Ảnh hưởng của Phương Tây dưới thời Gia Long đến từ mối quan hệ giữa Hoàng đế Gia Long với người Pháp khi ông thông qua những ngời phương Tây làm trung gian để nhờ hỗ trợ về mặt vũ khí, huấn luyện quân đội… nhằm đánh bại nhà Tây Sơn.

Sự ảnh hưởng của phương Tây này có thể nhìn thấy một cách rất đặc biệt trong các kiến trúc theo lối thành Vauban của Châu Âu trong các thành lũy, pháo đài bên cạnh đó vẫn giữ nét Á Đông. Điển hình là Tử Cấm Thành của nhà Nguyễn tại Huế, cả khu vực nhìn từ trên cao xuống được thiết kế theo lối thành Vauban nhưng chi tiết kiến trúc, các nhà cửa, cung điện, cổng Ngọ Môn…vẫn tuân thủ chặt chẽ lối kiến trúc Á Đông, các thuật phong thủy.

Ngay khi vừa thành lập năm 1802, nhà Nguyễn sở hữu một lãnh thổ Việt Nam lớn và toàn vẹn nhất so với trước kia, vì vậy một nhiệm vụ cấp thiết đặt ra là phải tiến hành thu thập bản đồ trên phạm vi cả nước, cũng như từ các triều đại trước để tổng hợp lại tạo ra cơ sở cho việc quản lý quốc gia, mà lãnh thổ đã trải dài từ Trung Hoa tới sát Campuchia.

Các quan lại nhà Nguyễn phụ trách về bản đồ đã phải sưu tầm sau đó chỉnh sửa các bản đồ thời Lê, sau đó thêm vào các khu vực mới mà Đại Nam hiện có, chủ yếu nằm ở phía Nam.

Nghành bản đồ học thời Nguyễn không đi theo xu hướng thời Lê mà tiếp nhận phong cách bản đồ đã phát triển dưới thời Minh – Thanh. Phong cách bản đồ này ban đầu được sử dụng dưới thời Minh với bộ bản đồ “Đại Minh nhất thống chí” (大明一統志) vẽ năm 1461, thuật ngữ “Nhất thống chí” tiếp tục được sử dụng về sau này và xuất hiện cả ở Việt Nam vào thế kỷ 19.

Vào năm 1806, học giả Lê Quang Định hoàn thành “Nhất thống dư địa chí” (Hoàng Việt nhất thống Dư địa chí - 皇越一統輿地志) dưới thời Hoàng đế Gia Long, tác phẩm này không có bản đồ vẽ kèm.
Trong số 10 chương, 4 chương đầu nói tới các tuyến đường đi về phía Bắc và Nam từ kinh đô Huế, tới biên giới, 6 chương còn lại gồm phần Thực lục ghi chép về đường bộ đường thủy ở các Dinh trấn, kể từ đường chính bắt đầu ở lỵ sở đi các nơi. Khi chép về Dinh trấn, có chép sơ lược về cương giới, phong tục, thổ sản, nét đặc trưng riêng của Dinh trấn đó.

Ở miền Bắc, vẫn có các học giả bảo lưu truyền thống bản đồ học thời Lê. Năm 1810, Đàm Nghĩa Am đã biên soạn bộ “Thiên Tải nhàn đàm”( 天 載 閒 談), theo phong cách bản đồ thời Lê.

Vài năm sau công trình của Đàm Nghĩa Am, “Bắc Thành địa dư chí “ (Bắc Thành dư địa chí lục - 北城地輿誌錄) xuất hiện, như một cuộc khảo nghiệm các vùng thuộc phía Bắc thời Nguyễn, vẫn không có bản đồ đi kèm. Mỗi tỉnh tại khu vực miền Bắc được viết trong 1 chương sách, 11 tỉnh ứng với 11 chương sách.


Bản đồ Gia Định 1815 do Trần Văn Học vẽ. (Trên cùng là hướng Bắc, dưới cùng là hướng Nam).

Phía Nam, cũng có bản đồ riêng của mình, năm 1816, Trần Văn Học hoàn thành bản đồ Gia Định, cung cấp một cái nhìn trực quan và mạnh mẽ về ảnh hưởng của kiến trúc phương Tây lên cách thiết kế thành lũy. Bản thân Trần Văn Học cũng là võ tướng theo hoàng đế Gia Long lâu năm, từng cùng giám mục Bá Đa Lộc liên lạc với người Pháp để nhờ hỗ trợ. Chính ông cũng là người đầu tiên tiến hành phác họa và xây dựng mẫu thành dạng Vauban, chính là thành Gia Định.

Bản đồ cũng do chính ông vẽ vào năm 1815, và ở bản đồ này ta không còn thấy chút nào dấu vết của phong cách bản đồ thời Lê. Các con sông được vẽ cung cấp một cảm giác về đo lường chính xác hơn, và thành lũy thì hiện rõ nguồn gốc Vauban.
Các đường giao thông, đường dần và tường thành đều có vẻ chính xác, cùng với nhà cửa, ao hồ chạy dọc theo chúng. Không giống các bản đồ trước vẽ về phía Bắc, bản đồ này cung cấp rõ hơn cảm giác về cuộc sống thường nhật cũng như cuộc sống thương mại trong thành Gia Định.

Tuy vậy, tác giả vẽ bản đồ không vẽ các ngọn đồi hay có bất kỳ sự hiển thị về độ cao thấp nào. Các ký hiệu trên bản đồ cung cấp khá rõ các đặc điểm tự nhiên, dân cư và xã hội, nhưng không như bản đồ thời Lê không có các minh họa chùa chiền, đền miếu, các chốn thiêng liêng và các công trình khác. Tất cả đều đúng trực giao, đúng về quy luật vật lý, không có các góc nhìn thẳng từ mặt trước giống bản đồ cổ.

Năm 1820, Học giả Trịnh Hoài Đức đã hoàn thành tác phẩm “Gia Định thành thông chí” (嘉定城通志), đây cũng là một tác phẩm đại dư không có bản đồ, nói về năm vùng thuộc lãnh thổ trấn Gia Định (Nam Bộ Việt Nam ngày nay). Trong khoảng 1 thập kỷ sau tiếp tục xuất hiện “Nam Kỳ hội đồ” (南圻會圖) với bản đồ của toàn quốc cũng như bản đồ cụ thể của 6 tỉnh Nam Kỳ. Bộ bản đồ này thì đã hoàn toàn theo phong cách Châu Âu.

Năm 1839 xuất hiện “Đại Nam toàn đồ” (Đại Nam nhất thống toàn đồ - 大南ー統全圖) bản đồ của toàn bộ 30 vùng lãnh thổ của đất nước Đại Nam bao gồm cả thuộc địa tại Lào, Campuchia và 82 cửa sông dọc theo bờ biển lãnh thổ của Đại Nam. Bản đồ này đưa vào phong cách thực tế của bản đồ phương Tây, mô tả chính xác hơn hình dạng bờ biển và thủy văn phức tạp của sông ngoài, thậm chí là hệ thống sông Mekong. Các bản đồ địa phương cũng rất rõ ràng, vẫn tuân thủ nguyên tắc vẽ kiểu Châu Âu cộng với đặc điểm tự nhiên, các khu rừng cũng được thể hiện.


Bản đồ toàn bộ lãnh thổ nhà Nguyễn trong “Đại Nam nhất thống toàn đồ” hoàn thành năm 1839 dưới thời Minh Mạng, được vẽ theo phong cách ảnh hưởng mạnh từ Châu Âu.

Mặc dù hoàng đế Thiệu Trị (1841 - 1847) cũng đã cho biên soạn Đại Nam thông chí (大南通志) nhưng phải tới thời hoàng đế sau đó là Tự Đức (1848 - 1884), người đã ra lệnh soạn ra tác phẩm địa lý lớn và hoàn chỉnh nhất của triều Nguyễn, nó cũng kết hợp được các văn bản về địa lý cùng với bản đồ.


Một bản đồ trong “Đại Nam nhất thống dư đồ”, miêu tả tỉnh Biên Hòa.


Năm 1861, theo lệnh Tự Đức bộ “Đại Nam nhất thống dư đồ” (大南一統輿圖) được hoàn thành. Tập bản đồ này có bản đồ của tất cả các vùng trong lãnh thổ nhà Nguyễn khi đó trải dài tới tận phía Nam ( thậm chí một vài vùng có nhiều bản đồ được vẽ). Mỗi tỉnh đều có ghi về diên cách, số nhân khẩu ruộng đất, thuế nộp hàng năm.


Bản đồ toàn quốc trong “Đại Nam nhất thống dư đồ”, không quá khác biệt so với “Đại Nam nhất thống toàn đồ” thời Minh Mạng.

Từ năm 1865 tới năm 1882 vẫn dưới thời vua Tự Đức, Bộ địa dư đồ sộ “Đại Nam nhất thống chí” (大南一統志) được biên soạn dựa trên bộ bản đồ “Đại Nam nhất thống dư đồ” chúng tôi đã giới thiệu ở trên. Nếu như “Đại Nam nhất thống dư đồ” là bộ bản đồ lớn nhất của nhà Nguyễn thì “Đại Nam nhất thống chí” còn vượt xa hơn trở thành bộ sách địa dư – lịch sử lớn nhất trong lịch sử các triều đại phong kiến Việt Nam. Bộ sách chịu ảnh hưởng nhất định của bộ “Đại Thanh nhất thống chí” (大清一統志)soạn từ năm1686 – 1842 từ thời Khang Hy tới Đạo Quang nhà Thanh.


Bản đồ cả nước trong quyển 1 của “Đại Nam nhất thống chí”.
Giống như trong “Đại Thanh nhất thống chí” thì “Đại Nam nhất thống chí” cũng thể hiện kinh đô Huế, phủ Thừa Thiên và 29 tỉnh còn lại trong cả nước. Các tỉnh được miêu tả với các chi tiết như: Đặc điểm chung của tỉnh, các địa phương cấu thành tỉnh, đặc điểm tự nhiên - xã hội, dân cư - văn hóa - phong tục, thành lũy – làng xã, danh nhân lịch sử, các danh lam, thuế, sản vật đặc trưng. Các nhà địa lý học dưới thời Tự Đức là những người duy nhất bao quát được cả quốc gia trong thế kỷ 19. Dù cho sau này 6 tỉnh Nam Kỳ mất vào tay người Pháp năm 1867, sau đó là nền độc lập của quốc gia vào năm 1884.

Tuy vậy các hoàng đế nhà Nguyễn chưa bao giờ thôi hi vọng về việc tái thống nhất quốc gia. Gần như ngay lập tức sau khi Pháp chiếm được Bắc Kỳ, hoàng đế Đồng Khánh (1885 – 1889) đã cho biên soạn bộ địa dư “Đồng khánh địa dư chí lược” (同慶地輿志略) hay còn gọi là “Đồng Khánh địa dư chí” (同慶地輿志) với phong cách tiếp tục Âu hóa hơn nữa tuy nhiên chỉ thể hiện khu vực miền Trung và Bắc Việt Nam vì 6 tỉnh Nam Kỳ vào năm 1867 đã thuộc về Pháp.

Trong triều Đồng Khánh còn xuất hiện một bộ bản đồ tập hợp bản đồ các triều đại gọi là “Đại Nam quốc biên giới vị (vựng) biên” (大南國疆界彙編) hoặc còn có tên “Đại Nam cương giới vựng biên lược sao” (大南疆界彙編略抄) do các tác giả Hoàng Hữu Xứng, Nguyễn Hữu Độ, Phan Đình Xứng biên soạn.

Sau đó 2 thập kỷ (Khoảng năm 1909) dưới thời hoàng đế Duy Tân (1907 – 1916), một tái bản của “Đại Nam nhất thống chí” xuất hiện dù lần này chỉ gói gọn trong lãnh thổ Miễn Trung. Phiên bản này có 17 chương, mỗi chương có 1 bản đồ, thể hiện tổng cộng 11 tỉnh, kinh đô và phủ Thừa Thiên, thêm vào đó là bản đồ quốc gia, ngoài ra có cả bản đồ Tử Cấm Thành ở Huế. Phiên bản này có hướng Âu hóa tới mức xuất hiện minh họa la bàn trên bản đồ, cùng các dấu hiệu xác định như đường sắt. Nét vẽ sông và biển khá thực tế nhưng núi thì không được thể hiện.

Trong thời kỳ là thuộc địa của Pháp, các học giả Việt Nam bắt đầu phát triển phong cách bản đồ mới, có một chút thiếu thực tế và nhiều chất Á Đông hơn. Ta có thể thấy nó trong 2 tập bản đồ là “Nam Bắc kỳ họa đồ”, tập bản đồ này là bản sao chép có chỉnh sửa của “Đại Nam nhất thống dư đồ” (1860). “Nam Bắc kỳ họa đồ” cho thấy sự ảnh hưởng nhất định từ xu hướng thực tế của phương Tây. Nhưng những người vẽ bản đồ cuối cùng vẫn lựa chọn phong cách nặng theo hướng Trung Quốc hơn với nét vẽ biển cuộn sóng tròn và núi hình thẳng đứng, chạy theo đường Các-xtơ (Karst).

Tập bản đồ thứ 2 là “Tiền Lê Nam Việt bản đồ mô bản” (前黎難越版圖摹本) Tập bản đồ Việt Nam: bản đồ Thãng Long, 13 thừa tuyên và 2 bản đồ toàn quốc. Đây là bản sao tập bản đồ thời Lê và phần vẽ thêm vào năm 1839.


Các dạng bản đồ địa phương khác cũng tồn tại trong thời Nguyễn. Các danh mục sưu tập tại Hà Nội liệt kê một số bản đồ các làng xã, nhưng chúng tôi nhận thấy không cần phải giới thiệu chúng ở đây. Một loại bản đồ địa phương khác cũng rất quan trọng với chính phủ đó là địa bộ. Các địa bộ này ghi chép về từng làng, cho thấy mỗi vùng đất, kích thước và kiểu đất. Chính phủ đã tiến hành các cuộc điều tra theo từng phần, mặc dù chúng tôi vẫn chưa biết các thức cụ thể của việc điều tra ra sao.

Bản đồ lăng tẩm hoàng gia triều Nguyễn, trích từ “Les Tombeaux de Hue: Cia-Long” của Charles Patris và L. Cadiere.

Các tập bản đồ cuối cùng mà chúng tôi quan tâm trong công trình nghiên cứu này lại rất khác biệt. Đó là bản đồ vẽ lại sơ đồ các lăng tẩm của nhà Nguyễn. Nó được vẽ với nét vẽ của Âu hóa, nhưng các đặc tính bên trong thì lại đậm chất Á Đông, họ đã vẽ nổi bật núi và nước, phản ánh ảnh hưởng vẫn còn rất mạnh mẽ của văn hóa Á Đông vào thời Nguyễn. Nhà nghiên cứu Rolf Stein trong cuốn “The World in Miniature” đã chỉ ra sự liên quan mật thiết giữa các lăng mộ này với các mô hình giả sơn cổ, vì chúng đều tuân theo quy luật phong thủy, các dấu hiệu tín ngưỡng, tôn giáo.

5) Kết luận
Sự phát triển của nghành bản đồ học Việt Nam luôn đi cùng với các cố gắng của các chính quyền trong lịch sử nhằm mở rộng sự kiểm soát với đất nước. Bản đồ thể hiện các địa điểm nằm trong quyền kiểm soát của nhà nước và triều đình thông qua bản đồ để nắm được thông tin từ đó tìm cách cai trị, khai thác nguồn nhân lực, vật lực, tài nguyên.
Nguồn
http://www.geography.wisc.edu/histcart/


Cũng xin nói luôn đây chỉ mới là bản dịch rút gọn, đăng để cung cấp kiến thức cơ bản, ngày mai trên Quốc sử quán ở F17 mình mới đăng bản full
Tới lúc đó sẽ dẫn link bổ sung
Tạm đưa về bên này đã,.

Reply With Quote
  #2155  
Old 17-02-2016, 00:19
I.Love.You.Edf's Avatar
I.Love.You.Edf I.Love.You.Edf is offline
Đã tốn tiền
 
Join Date: 12-2014
Location: 590947F1
Posts: 7,083
Re: Quốc sử Quán vOz

Quote:
Originally Posted by nvh92 View Post
mà chán quá có vẻ bài viết của mình bên f33 ít được xem rồi ở bên đó tới thớt vật lý khó nhằn còn đông hơn của mình
Voz dân kỹ thuật nhiều hơn dân lịch sử. Nên thread vật Lý xôm hơn là bt bác ah. Vì cũng có nhiều ng có kiến thức nền tảng về Vật lý từ đại học nên còn chém gió được. Còn người có nền tảng lịch sử tốt từ khối C ở Voz e rằng ít.

Reply With Quote
  #2156  
Old 17-02-2016, 00:43
nhphuqui nhphuqui is offline
Senior Member
 
Join Date: 09-2014
Location: G-Dragon
Posts: 1,121
Re: Quốc sử Quán vOz

Mình hy vọng bác nvh92 có thể làm một bài về hệ thống ấn triện VN và Trung Quốc, mình đam mê cái này lâu rồi nhưng không có điều kiện tìm hiểu kĩ. Có cuốn Kim ngọc bảo tỷ của hoàng đế và vương hậu triền Nguyễn Việt Nam rất hay, bác nào có pdf share dùm mình
Reply With Quote
  #2157  
Old 17-02-2016, 15:22
batuocbongdem_ht88 batuocbongdem_ht88 is offline
Đã tốn tiền
 
Join Date: 02-2014
Posts: 2,439
Re: Quốc sử Quán vOz

Thím nvh nghĩ sao về bài báo này?
http://kenh14.vn/cine/fan-to-nu-y-mi...7121859211.chn
Tóm lại là ai đạo của ai?
Reply With Quote
  #2158  
Old 17-02-2016, 18:51
nvh92's Avatar
nvh92 nvh92 is offline
Đã tốn tiền
 
Join Date: 05-2012
Posts: 2,844
Re: Quốc sử Quán vOz

1) Bản đồ Đại Việt
Bản đồ trở nên quan trọng hơn với người Việt khi triều đình Đại Việt thời Lê Sơ ngày càng đi theo xu hướng độc tôn Nho học. Trong hơn nửa thế kỷ đầy biến động sau năm 1370 (Các cuộc xâm lược của Champa thời kỳ cuối nhà Trần 1371 – 1390, nhà Hồ 1400 – 1407 và sự chiếm đóng của nhà Minh 1407 – 1427), Lê Lợi một hào trưởng ở Lam Sơn đã nổi dậy đánh đổ sự chiếm đóng của quân Minh lập ra triều đại mới, triều đại này lại vẫn có xu hướng duy trì các giá trị xưa cũ. Các hoàng đế mới của triều đại này cực kỳ quan tâm tới việc xây dựng và đảm bảo chế độ trung ương tập quyền. Cùng lúc đó họ du nhập hệ tư tưởng Minh Nho từ Trung Hoa qua các trung gian là tầng lớp Nho sĩ trẻ.

Sau hơn 30 năm kể từ khi lập triều đại với những thời điểm xung đột chính biến xen lẫn yên ổn, hoàng đế Lê Thánh Tông (1442 – 1497) lên ngôi, hứa hẹn một cơ hội thay đổi chiến lược quốc gia.

Vào những năm 1460, ngay sau khi lên ngôi ông đã củng cố việc thi cử, đều đặn 3 năm tổ chức thi một lần để chọn ra nhân tài, ông sử dụng các quan chức có năng lực trong triều; tăng cường xây dựng mô hình chính quyền quân chủ trung ương tập quyền.

Chính quyền với nòng cốt là các văn nhân – viên chức mở rộng sự thâm nhập và kiểm soát tới tận cấp cơ sở là làng xã, từ đó tạo được 2 tác dụng là đưa các tư tưởng Nho gia thâm nhập tới sâu nhất có thể trong xã hội và nắm được quyền kiểm soát mạnh hơn các nguồn lực địa phương.

Cũng gần như ngay tức khắc một lượng lớn thông tin vầ đại lý dân cư bắt đầu được đưa về triều , các quan chức địa phương được chỉ định đi khảo sát địa hạt mình quản lý và nắm rõ chúng, sau khoảng 100 ngày họ có nhiệm vụ gửi các báo cáo chi tiết về cho triều đình.

Năm 1467, hoàng đế ban lệnh xuống cho 12 đạo thừa tuyên trong cả nước tiến hành vẽ toàn đồ quốc gia. Theo lênh được ban các quan chức đại phương bắt đầu tiến hành vẽ một cách cẩn thận hình thế khu vực họ chuyên trách, miêu tả núi đồi, sống suối, các khu vực chiến lược, các tuyến đường giao thông, các đại điểm lịch sử.

Những bản đồ địa phương này sau đó được gửi về kinh đô Thăng Long, nơi mà ở đó năm 1469 chúng bắt đầu được tổng hợp lại rồi kết hợp với các tư liệu sẵn có trước đó để cho ra bộ bản đồ chính thức về 12 đạo thừa tuyên trong cả nước, lãnh thổ quốc gia, kinh đô…

Nhưng cũng phải tới 21 năm sau đó vào năm 1490, hoàng đế Lê Thánh Tông mới chấp nhận và chính thức tuyên bố “Thiên hạ bản đồ” trở thành bộ bản đồ chính thống của Đại Việt. Lúc này “Thiên hạ bản đồ” không còn chỉ thể hiện 12 đạo thừa tuyên nữa mà phải mở rộng thêm 1 đạo Quảng Nam vốn là các vùng đất chiếm được của Chiêm Thành trong cuộc chinh phạt năm 1479 do đích thân Lê Thánh Tông ngự giá thân chinh. Cái tên “Thiên hạ bản đồ” sau này ít được người ta nhắc tới mà thay vào đó là cái tên “Hồng Đức bản đồ”( 洪德版圖).

Theo như học giả Bùi Thiết thì dẫu rằng có ghi chép khá rõ về việc làm bản đồ thời kỳ này nhưng cũng như thời Lý – Trần trước đó, hầu như không có hiện vật bản đồ nào còn tồn tại được tới nay, tất cả các bản đồ giúp ta có thể liên tưởng tới các bản đồ gốc thì đều thuộc các bản sao chép thế kỷ 17 – 18 , thậm chí bộ “Hồng Đức bản đồ” cũng chỉ còn tồn tại qua các bản sao chép, bản gốc đã thất truyền từ lâu.

Nhưng dẫu vậy vẫn có một tấm bản đồ rất có thể tồn tại được từ trước những năm 1600, không giống như các bản đồ khác cùng thời nhà Lê Sơ vốn chứa nhiều thông tin. Tấm bản đồ này cần có sự kiểm tra chi tiết để hiểu được. Chúng tôi xin giới thiệu ở dưới đây cũng một số chú dẫn.

"Tổng quát đồ", ảnh chụp từ bộ sưu tập bản đồ của thư viện Hamilton thuộc đại học Hawaii tại Manoa, Honolulu, Mỹ.


Tấm bản đồ trên được chúng tôi tạm gọi là “Tổng quát đồ”( 總括圖), nó là một dạng phụ lục cho tài liệu “Bản quốc bản đồ tổng quát mục lục”. Bản đồ này không liên quan mấy tới tài liệu chứa nó mà lại liên quan tới lãnh thổ địa lý Đại Việt nhiều hơn, dù nó không đề cập tới bất kỳ quốc gia lân cận nào trừ một tỉnh của Trung Quốc gần biên giới.

Tấm bản đồ phác họa theo phong cách đơn giản, gồm các nét vẽ thể hiện sông ngòi và các vùng đất giữa các con sông. Không có các nét gợn sóng để thể hiện nước trên sông, có vài ngọn núi được vẽ trong bản đồ nhưng được vẽ theo kiểu tối giản nhất.
Các địa danh trong bản đồ được ghi chép với vô số cái tên nhưng không có dấu hệu thể hiện. Kết qủa là bản đồ này cho thấy vô số tên địa danh và sông ngòi nhưng không nhìn rõ các vùng đất. Do vậy, có thể coi tấm bản đồ chưa được hoàn thiện lắm này là đại diễn đầu tiên của người Việt khi cố gắng vẽ lại hình ảnh đất nước.

Các thông tin cung cấp từ những cái tên trên bản đồ có vẻ khá hỗn tạp, ít nhất từ sự khảo nghiệm của chúng tôi. Có tới hơn 300 cái tên được đưa ra, 50 trong số đó được khoanh tròn để nhấn mạnh.

Trong số 50 cái tên đó có bao gồm cả kinh thành Thăng Long (Được gọi trong bản đồ là An Nam Long Biên thành), bản đồ miêu tả cả vị trí Hồ Tây, đền Hùng vương, cùng 12 khu vực khác, có 5 khu vực thuộc châu thổ đồng bằng sông Hồng được gọi riêng với thuật ngữ “đạo thừa chính” là Kinh Bắc, Hải Dương, Sơn Tây, An Bang, Sơn Nam, thuật ngữ đạo thừa chính này bắt nguồn từ cách gọi “đạo thừa tuyên” vào những năm 1460 dưới thời Lê Sơ, nhưng thừa chính ở đây là chỉ các trấn phụ cận bao quanh kinh thành Thăng Long.

Bảy vùng khác ở phía Bắc và Tây cũng chỉ có thể xác đinh được qua tên gọi chứ không thể xác định qua hình vẽ trên bản đồ. Tuy nhiên, một điểm cần thắc mắc là trong bản đồ có nêu tên vùng Cao Bằng, nhưng trước thế kỷ 17, Cao Bằng chưa bao giờ là một đạo độc lập được nêu tên riêng cả mà chỉ là 1 phủ nằm trong đạo Tuyên Quang và Ninh Sóc.

Mặt khác khu vực thứ 12 trong bản đồ, cực Nam của tình Thuận Hóa, ở đây lại được tính vào phần lãnh thổ Hoa châu và Thuận châu. Vùng lãnh thổ thứ 13 là Quảng Nam, phía Nam Thuận Hóa cũng được thể hiện nhưng dưới dạng một cửa sông. Nhìn chung bản đồ này cho thấy người vẽ ra nó không quan tâm mấy tới các phần lãnh thổ phía Nam. Không có sự nhấn mạnh tới 2 vùng Nghệ An – Thanh Hóa vôn là đất phát tích của nhà Lê, ngoài ra Tây Kinh, là căn cứ địa của nhà Lê ở Thanh Hóa cũng không xuất hiện.

Chứng cớ quan trọng nhất để cung cấp cho chúng ta về thời điểm bản đồ này được vẽ ra đó là trong bản đồ khu vực An Bang không được gọi là An Quảng, cách gọi An Quảng chỉ bắt đầu có từ cuối thế kỷ 16 dưới thời Lê Trung Hưng. Cũng như vậy trong bản đồ khu vực Thái Nguyên không được gọi là Ninh Sóc, nguyên gốc thời Lê Sơ năm 1466 Lê Thái Tổ đặt ra đạo thừa tuyên Thái Nguyên tới năm 1469 mới đổi tên thành Ninh Sóc.

Kinh đô trong bản đồ này được gọi là Phụng Thiên phủ, vốn là cách gọi từ thời Lê Thánh Tông; các vùng lãnh thổ phía Nam trong bản đồ này không có được vẽ và định danh chính xác lắm, từ đó ta có thể mở rộng thêm suy đoán rằng người vẽ nó sống ở khu vực miền Bắc Việt Nam và không thể có điều kiện di chuyển để tham khảo thực địa, cũng như đọc các tài liệu miêu tả chính xác lãnh thổ địa lý ở phía Nam.

Tổng hợp các dữ kiện chúng tôi tạm thời ước đoán “Tổng quát đồ” được vẽ muộn nhất vào khoảng cuối thế kỷ 15 và dưới thời nhà Mạc, trong thời gian này nhà Mạc đang có chiến tranh với nhà Lê Trung Hưng, phần lớn vùng lãnh thổ phía Nam đều nằm trong kiểm soát của nhà Lê Trung Hưng và điều này cũng giải thích vì sao vùng Cao Bằng lại được đặt riêng thành một đạo độc lập, nó thể hiện sự quan tâm của nhà Mạc tới địa phương có vị trí chiến lược này.

Vì sau khi bị đánh bại năm 1591 – 1592 nhà Mạc đã rút chạy lên Cao Bằng rồi cát cứ ở đó hơn 30 năm nữa và rất có thể tấm bản đồ này được vẽ khi nhà Mạc đã rút lên Cao Bằng.

Xét về mặt lý thuyết “Tổng quát đồ” là hiện vật bản đồ cổ nhất của Việt Nam còn tồn tại tới nay ?.

Các bản đồ cổ từ thế kỷ 15 hầu hết được sao chép lại vào thế kỷ 17 về sau, nhưng với việc sao chép đó người ta cũng chỉnh sửa cho phù hợp hơn với các thay đổi về địa lý – hành chính. Ví dụ là địa danh An Quảng vào năm 1592 dưới thời Lê Trung Hưng (1533–1789) được đổi tên thành An Bang.

Thêm vào đó, bản đồ kinh đô sẽ cho thấy Vương phủ của chúa Trịnh chứ không phải hoàng cung của vua Lê. Đây là hệ quả của công cuộc Trung Hưng nhà Lê bởi chính họ Trịnh đã giúp nhà Lê đánh đuổi nhà Mạc, giành lại Thăng Long, nhưng sau đó toàn bộ quyền lực đều bị tập đoàn quân phiệt họ Trịnh thâu tóm, vua Lê chỉ còn hư vị, ngồi trên ngai vàng làm hình ảnh đại diện.

Riêng các bản sao chép lại Tập bản đồ Hồng Đức còn lại đến ngày nay, được gọi đầy đủ là “Hồng Đức nhị thập nhất niên tứ nguyệt sơ lục nhật “ (洪德貳拾壹年肆月初陸日), gồm 15 tấm bản đồ và những phần chữ thuyết minh, chú giải cho bản đồ. Tập bản đồ gốc vốn đã thất truyền.

15 tấm bản đồ đó bao gồm 1 Bản đồ cả nước, 1 tấm bản đồ kinh đô Thăng Long ; 13 bản đồ của 13 đạo thừa tuyên đương thời.

Hồng Đức bản đồ có nét vẽ đặc trưng kiểu Á Đông, các con sông được vẽ với ký hiệu sóng nhỏ, biển được vẽ với các nét sóng to, núi non vẫn được vẽ với phong cách đơn giản nhưng có thêm các nét vẽ cảnh quan thiên nhiên.
Các công trình nhân tạo như nhà cửa, thành trì, cung điện… cũng được vẽ, các yếu tố khác được xác định nhờ các ghi chú trên bản đồ. Mục đích chính của tập bản đồ này là hành chính và do vậy họ ghi chép các khu vực địa lý hành chính như tỉnh quận huyện vào các ô vuông trên bản đồ.

Bản đồ Đại Việt thời Lê, thực chất đây là bản sao chép có chỉnh sửa vào thời Lê Trung Hưng (Khoảng thế kỷ 17) từ bản đồ gốc vào thế kỷ 15 thời Lê Sơ. (Trên cùng là hướng Tây, dưới cùng là hướng Đông)

Bản đồ của Đại Việt này thể hiện cả đường biên giới quốc gia phía Bắc và Nam với Trung Hoa và Champa. Phía Tây Bắc bản đồ thể hiện tỉnh phía Tây Nam của Trung Hoa là Vân Nam, phía Đông Bắc thì thể hiện tỉnh phía Đông Nam Trung Hoa là Quảng Đông và Quảng Tây, được đánh dấu bởi bởi hình ảnh thành trì và chú thích là “Đất của Bách Việt” và “Đất nhà Triệu của Triệu Đà”.

Hai kinh đô khi đó trên bản đồ thể hiện là Trung Đô (Thăng Long, kinh đô chính trị và kinh tế) và Tây Kinh (Kinh đô trên tên gọi, thực ra là một thành phố lớn thì đúng hơn, bởi nó là nơi phát tích nhà Lê, thuộc khu vực tỉnh Thanh Hóa ngày nay). Trên bản đồ hình ảnh đền thờ phản ánh một cấu hình nghi lễ tâm linh.

Ở trung tâm là đền thờ Lý Ông Trọng ngoại vi Thăng Long, đây là nhân vật anh hùng huyền thoại của người Việt đã có công giúp Tần Thủy Hoàng đánh bại quân Hung Nô. Tây, Bắc Đông, Nam của kinh đô là vị trí các đền thờ Phật như Phả Lại, Quỳnh Lâm, Phổ Minh, Phật Tích.



Bản đồ Thăng Long trong “Hồng Đức bản đồ”, tuy nhiên đây vẫn là bản sao chép lại vào thế kỷ 17 từ bản đồ gốc thế kỷ 15, bởi vậy ta chưa thể kết luận rằng Thăng Long thế kỷ 15 thời Lê Sơ giống như bản đồ này miêu tả. (Trên cùng là hướng Bắc, dưới cùng là hướng Nam).

Chú thích cụ thể (Đây là phần bổ sung của người dịch, mặc dù đã cố gắng hết sức có thể để dịch nhưng do bản đồ đã quá cao tuổi và sự hạn chế về tư liệu, người dịch chưa chú thích được tất cả mọi địa điểm):
1.Thăng Long thành; 2.Vạn Thọ điện; 3.Kính Thiên điện; 4.Thị triều; 5.Ngọc Hà; 6.Đoan môn
7.Đông cung; 8.Phụng Tiên điện; 9.Đông Trang an; 10.Tây Trang an; 11.Chùa Khán Sơn ; 12.Linh Lang từ; 13.Giảng Vũ điện
14.Hội Thi trường; 15.Bảo Khánh môn; 16.Nam môn; 17.Đông môn; 18.Bạch Mã từ; 19.Sông Tô Lịch; 20.Quảng Đức huyện;
21.Cơ Xá châu; 22.Giáp Kinh bắc; 23.Thiên Đức giang; 24.Bắc giáp Sơn Tây giới; 25.Vạn Bảo châu; 26.Nhị Hà; 27.Chấn Vũ quán;
28.Tây Hồ; 29.Tây giáp Sơn Tây giới; 30.Giáp Sơn Tây; 31.Thiên Phù giang; 32.Quốc tử giám;
33.Phụng Thiên phủ; 34.Báo Thiên tháp; 35.Vương phủ; 36.Hoàn Kiếm hồ; 37.Phù sa châu; 38.Thọ Xương huyện;
39.Tư Thiên giám; 40.Đại hồ; 41.Lâm Khang cống khẩu; 42.Nam Giao điện; 43.Đông giáp Kinh Bắc giới; 49.Nam giáp Sơn Nam giới.


Trong bộ “Hồng Đức bản đồ” này, bản đồ của kinh thành Thăng Long như nhà nghiên cứu Hoàng Đạo Thúy nói, cho ta thấy được đời sống thường nhật cũng như đời sống thương mại của thành phố này thời Lê.

Hình dáng của phần ngoại vi kinh đô không đồng đều và bị chia cắt bởi sông ngòi, hồ nước, Tử Cấm thành bên trong thành dược xây theo trục Nam – Bắc vốn là hướng kiến trúc quen thuộc của văn hóa Á Đông, bên ngoài bức tường của Tử Cấm thành là tháp Bảo Thiên (Hoặc Báo Thiên) và bên cạnh đó là Đàn Nam Giao, đàn tế trời đất mà mọi quốc gia quân chủ Á Đông ảnh hưởng bởi Nho giáo đều phải có, hoàng đế sẽ đến đây tế vào mùa xuân hàng năm, bản đồ còn thể hiện Đền Bạch Mã, đền Trấn Vũ và Quốc tử giám.

Bản đồ trấn Sơn Nam trong Hồng Đức bản đồ, vẫn như trên nó được sao chép có chỉnh sửa vào thế kỷ 17 từ bản gốc . (Trên cùng là hướng Tây, dưới cùng là hướng Đông)

Bản đồ của các trấn quan trọng như Kinh Bắc, Sơn Tây, Hải Dương, An Quảng, Sơn Nam, phản ánh bản chất của các khu vực châu thổ. Chúng ta thấy được các cách gọi ảnh hưởng đậm nét từ việc sống dưới hạ nguồn sông như ngã ba, kênh, cầu, cửa, môn. Còn trong các địa danh tên đất ta thấy các cách gọi như tự (Các chùa thờ Phật), miếu (Các đền nhỏ thờ các nhân vật hoặc yếu tố siêu nhiên), cũng như một số điểm canh gác được gọi là tuần và các di tích lịch sử quan trọng như thành Cổ Loa hay mộ của Cao Biền.

Ở phía Bắc và Tây là các khu vực gần biên giới Trung Hoa như các trấn Thái Nguyên, Tuyên Quang, Hưng Hóa, Lạng Sơn được vẽ với hình ảnh núi đồi dày đặc và cả các chú thích. Các cửa ải được trình bày ngắn gọn giống như việc thể hiện các điều kiện tự nhiên trên bản đồ. Các yếu tố nhân tạo chính được thể hiện là các doanh trại quân sự, các điểm canh gác (Tuần), và thành lũy. Trấn Lạng Sơn được vẽ với một thành lũy cực kỳ lớn làm nhiệm vụ canh gác tuyến tường vào Quảng Tây.

Vì nhà Lê khởi phát ở 2 vùng Thanh Hóa – Nghệ An nên bản đồ 2 vùng này được xuât hiện đầu tiên trong tạp “Hồng Đức bản đồ”, tuy nhiên chúng cùng với Thuận Hóa và Quảng Nam đều có chung một đặc điểm. Chúng đều là một phần trong lãnh thổ Miền Trung Việt Nam, có lãnh thổ hẹp dài nằm giữa núi và biến cùng các con sông ngắn chạy cắt ngang, song song theo hướng Tây sang Đông.

Tình hình chính trị Việt Nam vào cuối thế kỷ 16, 17 và 18 đảm bảo rằng các bản đồ làm vào thời Lê Thánh Tông thế kỷ 15 sẽ tiếp tục được sao lưu và chỉnh sửa. Khi nhà Lê Sơ bắt đầu rơi vào suy vong sau khi vua Lê Hiển Tông qua đời năm 1504, các đời vua sau của nhà Lê Sơ như Lê Tương Dực, Lê Uy Mục, Lê Chiêu Tông không hề cải thiện được tình hình mà thậm chí còn làm Đại Việt rối loạn hơn. Xuất thân từ một võ tướng Mạc Đăng Dung đã dần thăng tiến rồi trở thành quyền thần trong triều đình, tháng 6 năm 1527, Mạc Đăng Dung phế truất Lê Cung Hoàng lên ngôi đế, lập ra nhà Mạc.

Nhà Mạc dù lật đổ nhà Lê Sơ nhưng vẫn tiếp tục duy trì các thiết chế cũ của nhà Lê mà trọng tâm là thời Hồng Đức. Với tất cả các bằng chứng sử liệu mà tới nay ta còn có thì nhà Mạc đã duy trì một triều đại ổn định, thịnh vượng mà thậm chí được chính sử sách của kẻ thù là nhà Lê Trung Hưng sau này ghi nhận. Nếu thực sự Tổng quát đồ được vẽ ra vào thời Mạc thì họ đã tiếp tục kế thừa cách tổ chức hành chính từ thời Hồng Đức, ít nhất là trong phạm vi khu vực họ kiểm soát là Đồng bằng Bắc Bộ.

Với sự giúp đỡ của tập đoàn quân phiệt họ Trịnh tới năm 1592 nhà Lê Trung Hưng giành lại được Thăng Long đuổi nhà Mạc chạy lên Cao Bằng, tuy vậy toàn quyền cuối cùng lại rơi hết vào tay họ Trịnh. Tuy nhiên thời gian thống nhất cũng không kéo dài được lâu, vì sau đó họ Nguyễn vốn nguyên gốc là thông gia với họ Trịnh đã đi vào Nam li khai và lập chính quyền riêng tại Quảng Nam, tuyên bố chống lại họ Trịnh ở phía Bắc. Từ đó diễn ra cuộc chiến tranh Trịnh – Nguyễn dài hơn 200 năm, việc vẽ bản đồ thời này không được ghi nhận nhiều từ cả 2 phía, tuy vậy 2 phe cũng đều coi bản đồ từ thời Hồng Đức là khuôn mẫu.

Giữa thế kỷ 17, bộ Hồng Đức bản đồ ngày nay ta biết mới được tập hợp thành tuyển tập, các văn nhân thời Lê – Trịnh đã thu thập và chỉnh sửa bản đồ thời Lê Sơ.

Một học Giả là Đỗ Bá đã biên soạn tài liệu mà chúng tôi nêu trên là “Bản quốc bản đồ tổng quát mục lục” với “Tổng quát đồ”, ngoài ra ông cũng thêm vào 4 bản nhật hành(trình) mà chúng tôi sẽ nói tới ở phần sau. Tính tổng số các lượng xuất bản, những bản đồ chính thức của nước Đại Việt vẫn còn xuất hiện tới tận khi nhà Lê kết thúc năm 1787. Mặc dù quy mô dân số tăng rất cao nhưng tổ chức hành chính chỉ có thay đổi nhỏ.

Sự thay đổi lớn về mặt địa lý hành chính của Đại Việt dưới thời Lê – Trịnh đến vào cuối thế kỷ 17 khi họ Trịnh cuối cùng đã tiêu diệt sự cát cứ của họ Mạc tại Cao Bằng.

Sau khi thất bại năm 1592, nhà Mạc rút chạy lên Cao Bằng lấy đó làm căn cứ và nhận sự bảo hộ không chính thức của nhà Minh, thông qua việc hỗ trợ nhà Mạc cát cứ chống nhà Lê - Trịnh nhà Minh muốn tạo ra một “vùng đệm”, nếu phía Nam luôn trong tình trạng các thế lực đối đầu nhau thì không đe dọa được tới Trung Hoa.

Nhà Minh tới năm 1644 thì cũng bị nhà Thanh đánh bại, nhưng quãng 20 năm sau quan hệ giữa nhà Lê – Trịnh với nhà Thanh ở trong tình trạng mập mờ bởi trong thời gian đó nhà Thanh chưa “dọn dẹp” xong mọi kháng cự của người Hán, các tàn dư còn lại của nhà Nam Minh lại cố gắng lôi kéo sự giúp đỡ của Đại Việt bằng cách vừa ủng hộ nhà Mạc vừa cầu cứu họ Trịnh. Thêm vào đó là sự phân tâm do nỗ lực trong việc Nam tiến chinh phạt các chúa Nguyễn.
Tuy nhiên, năm 1662 tàn dư nhà Minh bị quân Thanh tiêu diệt tận gốc, thế lực nhà Mạc cát cứ Cao Bằng mất chỗ dựa ngoại giao, lợi dụng thời cơ, năm 1667 chúa Trịnh Tạc dẫn quân đánh Cao Bằng, Mạc Kính Vũ thua trận trốn sang Trung Quốc và nhờ nhà Thanh can thiệp.

Nhà Thanh vẫn có mục tiêu như nhà Minh trước kia nên năm 1669 sai sứ giả sang yêu cầu họ Trịnh rút quân khỏi Cao Bằng cho nhà Mạc quay lại, mặc dù đã dùng hết khả năng để ngoại giao nhưng cuối cùng trước sức ép quá lớn của Trung Quốc, chúa Trịnh Tạc buộc lòng phải trả lại Cao Bằng, ông nói rằng : "Thờ nước lớn phải cung kính theo mệnh lệnh", tuy vậy khi chỉ còn riêng mình với các cận thần, ông lại tiếc nuối than thở : “Con cá đã ở trong nồi rồi còn quẫy đuôi chạy được”.

Dù “con cá” nhà Mạc có thể trốn khỏi cái nồi họ Trịnh 1 lần vào năm 1669 nhưngkhông thể trốn được lần 2 vì thời thế đã khác, năm 1673 nhà Thanh gặp loạn Tam Phiên (tam phiên chi loạn - 三藩之亂) của các phiên vương gốc Hán là Ngô Tam Quế, Cảnh Tinh Trung và Thượng Khả Hỉ kéo dài từ năm 1673 tới 1681. Trong cuộc chiến loạn này, họ Mạc ở Cao Bằng đã ủng hộ Ngô Tam Quế, hậu quả là nhà Thanh ngay sau đó chấm dứt sự chống lưng cho họ Mạc.
Năm 1677, chúa Trịnh Tạc điều quân tấn công thu phục Cao Bằng, Mạc Kính Vũ chạy sang Trung Quốc. Tới năm 1683, sau khi dẹp hẳn loạn Tam Phiên, quyền cai trị của họ Trịnh tại Cao Bằng được nhà Thanh công nhận.

Tới nay chúng ta còn giữ lại được 3 bản đồ nằm trong bộ Hồng Đức bản đồ với tên gọi chung là “Cao Bằng phủ toàn đồ” (高平府全圖). Chúng chắc chắn được vẽ trong khoảng giữa năm 1667 - 1669. Các bản đồ này cho thấy vị trí của dinh trấn Mục Mã (nay là phường Hợp Giang, thành phố Cao Bằng) và vị trí của thành Cao Bằng khi đó (Nay thuộc huyện Phục Hòa, tỉnh Cao Bằng).

Bản đồ dinh trấn Mục Mã. (Trên cùng là phía Đông, dưới cùng là phía Tây)

Phong cách vẽ của bản đồ đầu tiên gần tương tự như “Tổng quát đồ”. Các con sông được vẽ đơn giản và núi cũng chỉ được vẽ với các hình tam giác tương tự như các bản đồ khác thời Lê.

Có một yếu tố khác đó là dấu hiệu của các đường giao thông và đường mòn trong khu vực được vẽ ở bản đồ này. Các đơn vị hành chính thì được trình bày trong hình ovan. Bên cạnh các miêu tả núi đồi, cảnh quan còn có các miêu tả về các tổng, yếu tố chính của bản đồ là các công trình quân sự: các đồn trại, dinh trấn Mục Mã, tường thành quanh Phục Hòa, 12 điếm canh, 16 trại quân bên trong tường thành, cuối cùng là 5 dãy phố phía Tây dinh trấn.

Các tấm bản đồ còn lại kém chi tiết hơn tấm bản đồ này, tường thành và cảnh quan chỉ được phác họa sơ qua. Những bản đồ này, đã bổ sung thêm thông tin về tỉnh Thái Nguyên trong tập bản đồ thời Lê.

Nhà Nguyễn thành lập năm 1802, một học giả vô danh đã mang các bản đồ thế kỷ 17, 3 bản đồ Cao Bằng cùng với “Bình Nam Đồ” (平南圖) - bản đồ vẽ về phương Nam, “Đại Man quốc đồ” (大蠻國圖), tập hợp lại có lẽ là để giúp cho nhà Nguyễn có đủ thông tin để quản lý một quốc gia thống nhất từ Bắc tới Nam. Nó đã trở thành tuyển tập mà ngày nay ta biết là Hồng Đức bản đồ, đây là tập bản đồ quan trọng bậc nhất của lịch sử bản đồ Việt Nam, được rất nhiều người vẽ bản đồ sau này dùng làm khuôn mẫu hoặc sao chép lại. Cũng xin lưu ý những cái tên như Bình Nam Đồ, Đại Man đồ…trong "Hồng Đức bản đồ" chủ yếu là do người đời sau đặt và vẽ.


Bản đồ 1 khu vực trong “An Nam hình thắng đồ”, được sao chép vào khoảng giữa thế kỷ 18 từ bản gốc. (Trên cùng là hướng Tây, dưới cùng là hướng Đông)

“An Nam hình thắng đồ” (安南形勝圖) được vẽ vào khoảng thế kỷ 18, tấm bản đồ này về cơ bản dựa trên “Hồng Đức bản đồ”, thậm chí sự định hướng trong bản đồ này cũng giống.
Tuy vậy phong cách vẽ thì lại khác, dù “An Nam bình thắng đồ” vẫn vẽ chủ đạo theo hướng đơn giản với một vài nét vẽ phân định núi và nước nhưng các nét vẽ đã chuyển dần theo hướng tả thực phong cảnh tự nhiên hơn là sự cường điệu. Biên giới phía Bắc đường vẽ bởi các đường Các-xtơ (Karst), các ngọn núi không chỉ đơn thuần là phác thảo mà còn có sự đặc tả cảnh quan thiên nhiên trên núi, đền đài và tường thành cũng chi tiết hơn, một số góc bản đồ còn cho thấy cảnh sóng dập vào bờ biển.

Thay đổi đáng kể nhất của “An Nam hình thắng đồ” so với Hồng Đức bản đồ là việc dịch chuyển vị trí trung tâm, không còn thấy đền thờ Lý Ông Trọng nữa mà thay vào đó chỉ có tháp Báo Thiên. Việc nhấn mạnh yếu tố Phật giáo này tại trung tâm có thể cho thấy sự hồi sinh của Phật giáo vào thế kỷ 17 và 18.

Nhìn chung, truyền thống bản đồ học thời Lê đã cho ta thấy một thời kỳ hùng mạnh của Đại Việt trong lịch sử. Nó xuất hiện trong nhiều dạng thức khác nhau cũng như phong cách nghệ thuật khác nhau suốt thế kỷ 18, 19 và vào trong cả thế kỷ 20.

Tuy nhiên các thông tin trên bản đồ này có sự khác biệt với “Hồng Đức bản đồ”. Theo như Joseph Schwartzberg thì “An Nam hình thắng đồ” được vẽ bởi 1 tập thể các cá nhân không thống nhất về trình độ và phong cách nên dẫn tới phong cách mô tả các yếu tố trong bản đồ rất đa dạng, thậm chí có một số chỗ có cả các nét riêng của cá nhân.

Ví dụ khác của việc truyền thống bản đồ học từ thời Lê vẫn tiếp tục được duy trì kèm với các thay đổi có thể được nhìn thấy trong một dạng thức nữa mà chúng tôi sẽ giới thiệu ngay sau đây.
Reply With Quote
  #2159  
Old 17-02-2016, 18:52
nvh92's Avatar
nvh92 nvh92 is offline
Đã tốn tiền
 
Join Date: 05-2012
Posts: 2,844
Re: Quốc sử Quán vOz

2) Nhật trình Đại Việt

Một hình thức quan trọng của bản đồ thời Lê là các tập Nhật trình (Nhật ký đi đường ), nó thường vẽ lại, miêu tả các tuyến đường từ thủ đô tới các vị trí bên trong hoặc bên ngoài đường biên giới Việt phía Bắc – Nam. Loại bản đồ này dường như bắt đầu với chiến dịch chinh phạt Chiêm Thành năm 1471 của Lê Thánh Tông.

“Đại Việt sử ký toàn thư” đã nhắc tới việc Lê Thánh Tông tra cứu các bản đồ để hành quân trong chuyến chinh phạt Champa năm 1471, đồng thời ông cũng tiến hành đặt tên cho các địa danh trên đường đi.Với chuyến chinh phạt Champa này Thánh Tông trở nên e ngại hơn về sự khó khăn khi tìm hiểu về địa hình và phải nhờ tới sự giúp đỡ của một thủ lĩnh địa phương trong việc xây dựng bản đồ, một bản đồ chi tiết hơn của khu vực tập trung vào các điểm chiến lược và các tuyến đường thuận lợi băng qua núi rừng.

Các nỗi lực này chắc chắn đã đặt nền móng cho sự thiết lập của 4 bộ bản đồ nói về các tuyến đường tới Champa, “Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư” (天南四至 路圖書). Chúng ta không rõ được thời điểm “Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư” được vẽ, dù các ghi chú trên bản đồ được xác định là vào khoảng thế kỷ 17. Như chúng tôi đã đề cập trước đó, học giả Đỗ Bá đã tập hợp tất cả các bản đồ thời Lê vào tác phẩm “Bản quốc bản đồ tổng quát mục lục” vào khỏang cuối thế kỷ 17, trong thời điểm duy trì hệ thông đường bộ có vai trò quan trọng.


Một bản đồ trong “Thiên Nam Tứ Chí Lộ Đồ Thư”, bản đồ này cho thấy tuyến đường xuống phương Nam đi qua vùng núi Nam Thanh Hóa – Bắc Nghệ An. Được sao chép vào khoảng thế kỷ 17 từ bản gốc.(Trên cùng là hướng Tây, dưới cùng là hướng Đông)


Đúng như cái tên tập bản đồ này thể hiện 4 tuyến đường với điểm xuất phát từ kinh đô Thăng Long:
- Từ phía Nam tới kinh đô Champa.
- Phía Đông Bắc tới 2 vùng Khâm và Niệm theo chiều dài bờ biển gần biên giới Trung Quốc.
- Phía Tây Bắc tới Tây Nam vùng Vân Nam.
- Phía Bắc thì tới cửa ngõ tỉnh Quảng Tây của Trung Quốc

Phong cách vẽ của các bản đồ này đều liên quan tới “Tổng quát đồ”, với chỉ mấy đường vẽ đơn giản phân biệt mặt nước và mặt đất. Núi được vẽ đại diện bằng hình tam giác, tên các địa danh ghi trong ô hình chữ nhật. Một số công trình nhân tạo cũng được phác thảo, đặc biệt là các cứ điểm quân sự ở phía Nam. Với đặc tính là nhật trình, các bản đồ cho thấy đường đi qua cảnh quan xung quanh.

Tuyến đường đi tới tận cùng biên giới phía Nam và Champa được bắt đầu bằng việc lưu ý tới sự khác biệt về môi trường: đất liền và cầu đường , sông -kênh rạch và bến cảng, cửa biển- cửa sông và dòng chảy – vùng nước nông với sâu.
Các dạng nhật trình này cho thấy nhiều chi tiết hơn về cuộc sống đời thường và thương mại, khi ta càng di chuyền nhiều xuống phía Nam ta càng thấy nhiều hơn các làng mạc, chợ búa, quán trọ, đền đài, trạm canh gác và các tổ chức địa phương khác nằm bên đường.

Cầu cống, các con lạch, suối, cửa sông, ghềnh thác và các địa điểm nguy hiểm cũng được vẽ vào. Tuyến đường đi từ vùng đồng bằng sông Hồng qua Thanh Hóa và Nghệ An, vượt qua vùng biến giới cổ ở cực Nam (Nam giới) tiến vào vùng quân sự. Đây là khu vực họ Nguyễn cát cứ, một công tình phòng thủ được gọi là Lũy Thầy được họ Nguyễn xây dựng mà họ Trịnh trong suốt gần nửa thế kỷ (1620 -1670) đã tấn công nhiều lần nhưng không thể vượt qua.

Được đánh dấu tiếp trên bản đồ là hàng loạt các bức tường thành được gọi chung với cái tên Đồng Hới và các công trình hỗ trợ quân sự đi theo chúng: kho vũ khí, trại quân, các vị trí phòng thủ, trận địa pháo, kho lương thực, chuồng voi. Xen kẽ giữa những điều này là các làng mạc, thị trấn và cuộc sống thường ngày.

Khu vực kết thúc của bản đồ này là thuộc Đà Nẵng. Đi ngang qua thương cảng Hội An là làng mạc, đầm phá, cửa sông, hải đảo và nhiều núi hơn nữa, đó là diện mạo chính của vùng dọc bờ biển chạy dài về phía Nam. Ở phía bên kia vịnh Nha Trang và vịnh Cam Ranh là thủ đô của Champa. Ở đây khoảng cách đã bị bóp méo, vị trí của kinh đô đáng nhẽ hơi dịch lên phía Bắc cũng không được khắc họa rõ ràng, người vẽ bản đồ đã cố gắng pha trộn những gì mình được nghe miêu tả về thực địa với các chi tiết họ vẽ trên bản đồ.

Ba tuyến đường khác trong tập nhật trình đều liên quan tới phía Bắc, nói về việc đi từ thủ đô Thăng Long của Đại Việt tới các vị trí gần biên giới phía Bắc giáp Trung Quốc. Đầu tiên là ở phía Đông Bắc, đi qua vùng đồng bằng tới bờ biển. Bên cạnh các hình ảnh thông thường về cầu, đường, nhà cửa, sông suối thì bản đồ này có sự nhấn mạnh về biển, đá và sóng.

Tuyến đường thứ 2 đi về hướng Tây Bắc, xuyên qua núi đi tới Vân Nam. Ở đây có các điểm nhấn mạnh về núi và các con sông đi qua chúng. Trại lính và vị trí quân sự khác cũng được xuất hiện nhưng chỉ qua việc gọi tên. Các tuyến đường đi ngược dòng, xuyên qua đầu nguồn tới khu vực nay là huyện Quảng Nam, thuộc châu tự trị dân tộc Choang, Miêu Văn Sơn, tỉnh Vân Nam, Trung Quốc.


Một bản đồ đi lên phía Bắc qua Lạng Sơn trong “Thiên nam tứ chí lộ đồ thư”.


Tuyến đường thứ 3 là đường cho các sứ thần Việt đi tới thẳng Bắc Kinh. Đi từ hướng bắc của kinh đô Thăng Long, bản đồ cho thấy những yếu tố bình thường của tự nhiên và con người.

Chợ búa, trạm canh, trại lính xuất hiện trước khi tuyến đường di chuyển qua xuyên qua các hẻm núi, vượt tường thành Lạng Sơn để tới cửa khẩu biên giới giáp Trung quốc mà từ đó sẽ tiến vào tỉnh Quảng Tây. Bản đồ này cũng không cho thấy các khu dân cư miền núi giống như các bản đồ trước.


“Thiên nam tứ chí lộ đồ thư” đã cho ta thấy các con đường mòn với tính chất như đường quốc lộ, giúp kết nổi cả quốc gia và nhiều thông tin về tự nhiên, con người dọc theo các tuyến đường. Nó cũng cho ta thấy các tuyến đường kết nối quốc tế trên bộ, bỏ mặc tầm quan trọng của các tuyến đường biển.

Tuy vậy chúng tôi vẫn nhận thấy, bản đồ này không thể hiện toàn bộ lãnh thổ Việt Nam khi đó. Những người làm bản đồ thời Lê - Trịnh không có nhiều cơ hội thám hiểm phương Nam hay có các thông tin về phía Nam vì họ Nguyễn cát cứ, người thời đó gọi phía Bắc của họ Lê – Trịnh là Đàng Ngoài còn lãnh thổ phái Nam của họ Nguyễn là Đàng Trong. Tại Đàng Trong, cơ cấu xã hội và văn hóa đa dạng hơn, lãnh thổ của nó cũng mở rộng xuống vùng đất thấp ven biển thông qua lãnh thổ Champa vào miền Khmer, tạo ra các con đường như trước đây.

Để biết rõ hơn thông tin về khu vực phía Nam này thì ta lại cần nhìn vào “Bình Nam Đồ” (Giáp Ngọ niên bình Nam Đồ -甲午年平南圖), nó xuất hiện vào khoảng những năm 1654 theo như phần đề tựa và thông tin trong văn bản, có khả năng được các chúa Nguyễn vẽ; tuy vậy nhà nghiên cứu Tạ Trọng Hiệp lại cho rằng nó bắt đầu được vẽ bởi Đoan Quận Công Bùi Thế Đạt vào năm Cảnh Hưng thứ 35 (1774) sau khi họ Trịnh nhân sự suy yếu của họ Nguyễn đã Nam chinh năm 1774 – 1775 và chiếm được khu vực Phú Xuân.

Một bản đồ trong “Bình Nam đồ”, thể hiện khu vực nay thuộc tỉnh Quảng Bình .(Trên cùng là hướng Tây, dưới cùng là hướng Đông)

Chúng tôi đưa ra một ước đoán rằng có thể “Bình Nam Đồ” được Đoan quận công vẽ vào năm 1774 thực, nhưng là dựa trên các bản đồ sẵn có mà các chúa Nguyễn cho vẽ trước kia. Bản đồ này có sự chi tiết hơn về các cứ điểm phòng thủ và vùng quân sự. Phong cách vẽ cũng có chút khác biệt với các bản đồ vẽ về phía Bắc mà trước đó chúng tôi đề cập, nó có nét vẽ nghệ thuật hơn, trên núi vẽ biểu tượng hình voi dưới biển vẽ biểu tượng con đồi mồi.

Nếu ta di chuyển thêm về phía Nam, ta nhìn thấy thêm các thông tin mà các bản đồ vẽ về miền Bắc ít cung cấp, các cánh đồng lúa, nhà ở, đền, lực lượng quân sự, độ nông sâu của các con kênh, các cửa sông.

Thậm chí ta có thể thấy được cả các ngôi bảo tháp Phật giáo liền kề hồ nước được vẽ theo hướng cách điệu cổ. Chúng ta vượt qua một di tích thành phố Chăm cổ, sau đó là Đà Nẵng, rồi thương cảng Hội An và Quy Nhơn, xuyên qua phần lãnh thổ còn lại của Champa, cuối cùng chạm tới vùng Angkor ở Campuchia.


Một bản đồ trong “Bình Nam đồ”, thể hiện lãnh thổ Campuchia cùng di tích Angkor và hệ thống sông Mekong. Trong hình Angkor là số (1).(Trên cùng là hướng Tây, dưới cùng là hướng Đông)

Các chi tiết trong bản đồ này về phía Nam ít đi và sang bên kia biên giới thuộc khu vực Campuchia thì càng ít hơn. Trong khi các mối quan hệ về địa lý của vùng Đồng Bằng sông Cửu Long với khu vực Angkor là ngoài phạm vi hiểu biết của các nhà bản đồ học thời đó, họ đã chọn một số chi tiêt thú vị về Campuchia để thể hiện lên mặt giấy.

Khu vực Angkor được thể hiện bằng 1 hình mặt phẳng, vùng biển các kết nối thương mại thuộc vùng Biển Đông với Trung Hoa cũng được nhắc tới, mà Campuchia được ghi nhận như một trạm dừng chân và trung chuyển cho các chuyến hải trình buôn bán xuất phát từ Quảng Đông và Phúc Kiến, phần sông Mê Kông kết nối Lào và Vân Nam cũng xuất hiện. Bản đồ này đã cho thấy một phần của bước đường Nam Tiến, quá trình người Việt tiến xuống phương Nam mở cõi trong thế kỷ 16 – 18, đồng thời cung cấp các dữ liệu thú vị về dân cư, xã hội, thương mại…khu vực Đàng Trong của các chúa Nguyễn.


Lược đồ quá trình Nam Tiến của người Việt. Hình được vẽ dựa trên tư liệu lấy từ sách của Joseph Buttinger, “Vietnam: A Political History” và “Vietnam: A Country Study” của Ronald J. Cima.

Mặc dù có một số vấn đề, nhưng có thể khẳng định tất cả các các tập nhật trình từ Nam chí Bắc còn tới nay chủ yếu đều xuất hiện vào khoảng nửa sau thế kỷ 17. Nó khiến chúng tôi một lần nữa phải nhìn lại “An Nam hình thắng đồ” vì nó vẫn còn tồn tại dưới dạng bản thảo và chưa được khảo nghiệm chặt chẽ.

Như đã nói ở trên các phần của tập bản đồ này có minh họa còn tốt hơn cả “Hồng Đức bản đồ”. Trong một ấn tượng chung, chúng tôi đặt niên đại của bản đồ này vào khoảng thế kỷ 18, nhưng câu hỏi cần được giải quyết một cách chi tiết hơn. Nó vốn là một sản phẩm từ miền Bắc làm ra và được tái sao chép, chỉnh sửa vào thế kỷ 18 với 2 phần mở rộng thêm, bản đồ thời Lê (Mà chúng tôi đã nói trên) và “Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư” lấy từ “Hồng Đức bản đồ”. Tuy nhiên 4 tập nhật trình ở “An Nam hình thắng đồ” chưa được đặt tên, dài hơn một chút, được xem như các tuyến đường nội bộ, không có bất cứ liên kết nào tới biên giới và địa phận nước ngoài.

Chúng không bắt đầu một cách rõ ràng từ kinh đô Thăng Long và cũng không kết thúc ở lãnh thổ nước ngoài. Các tuyến đường đi xuống phía Nam (Cũng được minh họa bằng các ngọn núi và đền thờ) bắt đầu từ bên ngoài thủ đô Chăm; tuyến đường đi lên phương Bắc chấm dứt tại đường biên giới giáp Vân Nam.

Một điểm thú vị nữa là phần thứ 2 của “An Nam hình thắng đồ”, đó là cái nhìn chi tiết về khu vực núi rừng Tây Bắc, các con sông và các khu định cư của người dân tộc thiểu số bên bờ suối. Trong “An Nam hình thắng đồ” vùng Tây Bắc còn được phác thảo rất đơn giản thậm chí đơn giản hơn cả trong “Tổng quát đồ”.

Nó chỉ bao gồm các đường vẽ tạo hình 2 bên bờ sông hoặc minh họa các tuyến đường. Những cái tên được ghi trong khung chữ nhật hiển thị một cộng đồng dân cư, còn tên không được đóng khung hiển thị yếu tố khác, không ngọn núi nào được thể hiện trong bản đồ dù vẽ về vùng núi. Giá trị của bản đồ này chủ yếu nằm ở việc cho thấy cộng đồng dân cư, các thôn bản và các tổ chức khác dọc theo sông suối vùng Tây Bắc


“Bình Nam chỉ chưởng nhật trình đồ” (平南指掌日程圖), bản sao chép vào khoảng thế kỷ 18 từ bản đồ gốc, cho thấy tuyến hành trình qua khu vực nay là Quảng Nam với các di tích cũ của Champa, như thành Chà Bàn.

Các tập bản đồ với các phong cách khác cũng tồn tại trong khoảng thời gian này, kết hợp cùng bản đồ thời Lê, các tập nhật trình hoặc cả 2. Chúng ta có các cái tên như “Toàn tập thiên Nam lộ đồ thư”( 纂集天南路圖書), “Thiên Nam lộ đồ”( 天南路圖), “Kiền (Càn) khôn nhất lãm” (乾坤一覽) đều là các tập bản đồ và địa dư biến thể của bản đồ và nhật trình thời Lê.

Còn dạng biến thể như thế vào thế kỷ 18 ở Đàng Trong có thể kể tới “Bình Nam chỉ chưởng nhật trình đồ” và một lần nữa lại là “Kiền khôn nhất lãm” được vẽ bởi Phạm Đình Hổ, ông vẽ ra bản đồ này sau khi theo quân Trịnh vào chiếm Phú Xuân năm 1775 và ông có thể đã xem được các tài liệu địa lý thu được từ chúa Nguyễn.

Hai trong số các bản thảo, “Toản tập thiên Nam lộ đồ thư” và “Bình Nam chỉ chưởng nhật trình đồ”đại diện cho phong cách nhật trình miền Bắc và Nam. Đều là các bản in khắc gỗ, được minh họa bằng mực đen, với các nét đỏ được dùng để làm nổi bật đường giao thông và các tòa nhà. “Bình Nam chỉ chưởng nhật trình đồ” còn sử dụng các nét phác mờ khi vẽ các dãy núi. Cả 2 chắc chắn là điển hình của phong cách vẽ bản đồ trước thế kỷ 18.

Phần thứ tư của “An Nam hình thắng đồ”, minh họa một cách rõ ràng hành trình xuyên qua khu vực cực Nam Trung Hoa trên đường thủy. Bản vẽ bao gồm núi non, cây cối và khu định cư, hành trình này được gọi là một chuyến đi sứ, với tên gọi “Sứ trình thủy hàng” có thể nó được vẽ dựa trên các quan sát của các sứ thần trong chuyến đi sứ năm 1729 – 1730 và kết thúc tại điểm bên ngoài thủ đô Bắc Kinh.

Tuyến đường chạy xuyên qua vùng núi Bắc Việt Nam, qua tỉnh Lạng Sơn, qua cửa khẩu biên giới giáp Quảng Tây, trước khi vào hẳn nội địa Trung Hoa vượt các khu vực Tư Minh, Thái Bình, Nam Ninh, Quế Châu. Bản đồ cuối cùng của tập này miêu tả lại khu vực nay thuộc thành phố Hoài An, tỉnh Giang Tô, khu vực miền Đông Trung Quốc.

Ngoài ra còn có 1 tuyển tập bản đồ khác của Đại Việt có cùng chủ đề vê lãnh thổ nước ngoài như trên là “Sứ trình đồ họa” (使程圖畫) và đều có niên địa vào cuối thế kỷ 17 đầu thế kỷ 18.

“Sứ trình đồ họa” cũng thể hiện tuyến đường đi tới kinh đô Bắc Kinh, trong bản thảo đầu tiên các con sông được tô màu đất nung, các con đường màu đỏ, núi màu xám, xanh nước biển hoặc tím, các tường thành của các trấn và thành phố đươc tô màu đỏ, xám hoặc xanh nước biển, các làng mạc, nhà ở đều màu đen và trắng.

Những bản đồ này cung cấp những minh họa rất tốt thể hiện cái nhìn của người Việt về Trung Hoa và cuộc sống của họ bên các lưu vực sông. Góc nhìn từ dòng sông mở rộng sang cả 2 phía để thu vào đó cầu, tường thành, nhà cửa, đền đài và núi non. Các ngôi đền được vẽ nằm ở độ cao với độ chi tiết đáng kể, các ngọn núi được vẽ theo phong cách tự nhiên với sự nhấn mạnh chiều dọc.

“Đại Man quốc đồ”, (Trên cùng là hướng Bắc, dưới cùng là hướng Nam)

Tấm bản đồ thứ 2 là “Đại Man quốc đồ” ( Cảnh Thịnh tân đồ Đại Man quốc - 景盛新圖大蠻國), đây là gần như là bản đồ duy nhất cùng thời với nhà Tây Sơn (1788 – 1802) còn lại tới nay. Bản đồ này vẽ vùng lãnh thổ phía Tây Việt Nam, cụ thể hơn là vùng Hưng Hóa cuối thế kỷ 18. Đất nước được thể hiện trong bản đồ là Thái Lan được nhìn tổng quan từ phía Tây Việt Nam, trải dài từ vùng núi phía Bắc tới miền biển phía Nam.

Trong bản đồ xuất hiện vô số các mường (เมือง- mɯ̄ang) và chiềng (chieng – xieng) là hình thức tổ chức xã hội – hành chính của các cư dân bản địa tương tự như làng - xã - thành phố. Tại trung tâm bản đồ là kinh đô của Đại Man vào thời điểm đó là Ayudhya chứ không phải Bangkok. Trước đây nó là 1 phần của Xiêm La, như bản đồ nói với ta. Bản đồ này miêu tả bờ biển và cửa sông không chính xác, hướng của bản đồ chạy dọc theo phía Bắc từ bờ biển tới vùng núi.

Có 2 con sông được vẽ trong bản đồ đều chạy theo hướng Bắc tới Nam là Mae Nam Yom (Sông Yom) và sông Chao Phraya. Hướng Đông là hệ thông sông Mekong, hướng Tây lại có một con sông nữa, chắc chắn đó là sông Salween (Thanlwin). Ở hướng Đông còn có Xieng Khouang , cố đô của đế quốc Khmer là Angkor và Champa.

Giống như những người làm bản đồ trước đó đã tạo ra “Bình Nam Đồ”, những người làm bản đồ của “Đại Man quốc đồ” cũng gặp khó khắn với lưu vực sông Mekong. Họ không miêu tả được Biển Hồ ở Campuchia và các cửa biển cũng không được miêu tả rõ ràng. Bản đồ này cũng cho thấy sự phụ thuộc vào văn bản Trung Hoa trong việc định danh cho các khu vực của Xiêm và Campuchia.

Nhìn chung, bản đồ này xuất hiện để phản ảnh những gì sau đó cũng sẽ được biết tới, được dùng như một bản chỉ dẫn, thông kê khoảng thời gian di chuyển giữa các địa điểm.

Cũng xin chú ý rằng tất cả các tập nhật trình chúng tôi nói trên đều chỉ được thực hiện trên các chuyến đi trên đất liên hoặc sông, không có đường biển.
Cách vẽ của các tập nhật trình này mang tính chất cơ bản của phong cách bản đồ trước những năm 1800 ở Việt Nam.

Nét vẽ giữa đất và nước riêng biệt, dù trong bản vẽ ở Miến Điện các bản đồ có nhiều con sông được bao quanh bởi núi non từ đó làm nổi bật dòng chảy và giúp xác định vùng đất. Các ngọn núi được vẽ theo kiểu tam giác với 3 chỏm, bố trí theo hướng Đông, Bắc và Tây bản đồ. Các đường vẽ kết nối các địa điểm (địa danh để trong các khung chữ nhật) cho thấy cả các tuyến đường. Chỉ thủ đô Thái là được vẽ với khung chữ nhật có 2 lớp.
Reply With Quote
  #2160  
Old 17-02-2016, 19:28
nvh92's Avatar
nvh92 nvh92 is offline
Đã tốn tiền
 
Join Date: 05-2012
Posts: 2,844
Re: Quốc sử Quán vOz

3) Bản đồ của Đại Nam.

Nghành bản đồ học của Việt Nam có một diện mạo rất mới vào thế kỷ 19, trở nên đậm nét của cả Phương Tây và Trung Quốc hơn nữa. Sự đơn giản và tính chất phác thảo của bản đồ thời Lê Sơ đã bị thay thế bởi các nét ảnh hưởng quốc tế. Vị Hoàng đế lập ra nhà Nguyễn là Gia Long (1762 – 1820), mặc dù có quan hệ với Phương Tây nhất định nhưng ông về cơ bản là vị hoàng đế của Nho giáo, vì vậy ông vẫn cố gắng xây dựng và củng cố hệ tư tưởng Nho giáo tại Việt Nam dưới thời Nguyễn, thậm chí còn hơn cả dưới thời Lê Thánh Tông.


Ảnh hưởng của Phương Tây dưới thời Gia Long đến từ mối quan hệ giữa Hoàng đế Gia Long với người Pháp khi ông thông qua những ngời phương Tây làm trung gian để nhờ hỗ trợ về mặt vũ khí, huấn luyện quân đội… nhằm đánh bại nhà Tây Sơn. Sự ảnh hưởng của phương Tây này có thể nhìn thấy một cách rất đặc biệt trong các kiến trúc theo lối thành Vauban của Châu Âu trong các thành lũy, pháo đài bên cạnh đó vẫn giữ nét Á Đông.

Điển hình là Tử Cấm Thành của nhà Nguyễn tại Huế, cả khu vực nhìn từ trên cao xuống được thiết kế theo lối thành Vauban nhưng chi tiết kiến trúc, các nhà cửa, cung điện, cổng Ngọ Môn…vẫn tuân thủ chặt chẽ lối kiến trúc Á Đông, các thuật phong thủy.

Ngay khi vừa thành lập năm 1802, nhà Nguyễn sở hữu một lãnh thổ Việt Nam lớn và toàn vẹn nhất so với trước kia, vì vậy một nhiệm vụ cấp thiết đặt ra là phải tiến hành thu thập bản đồ trên phạm vi cả nước, cũng như từ các triều đại trước để tổng hợp lại tạo ra cơ sở cho việc quản lý quốc gia, mà lãnh thổ đã trải dài từ Trung Hoa tới sát Campuchia.

Các quan lại nhà Nguyễn phụ trách về bản đồ đã phải sưu tầm sau đó chỉnh sửa các bản đồ thời Lê, sau đó thêm vào các khu vực mới mà Đại Nam hiện có, chủ yếu nằm ở phía Nam.

Ngoài các ảnh hưởng từ quốc tế, thì có 2 yếu tố khác ta cần phải biết nếu muốn hiểu về sự phát triển nghành bản đồ học thời Nguyễn, đầu tiên là bối cảnh chính trị, thứ 2 là nguồn tư liệu.

Mặc dù, sau khi hoàng đế Gia Long lập nên nhà Nguyễn, đóng đô ở Huế, cương thổ của triều Nguyễn trải dài từ Bắc tới Nam nhưng sự kiểm soát của triều đình không đồng đều giữa các vùng. Triều đình Huế cố gắng kiểm soát chặt nhất khu vực miền Trung, Thừa Thiên – Huế, vốn là đất phát tích của nhà Nguyễn, còn 2 khu vực miền Bắc và Nam thì được giao quyền cai quản cho các quan tổng trấn, phía Bắc quyền tổng trấn Bắc Thành thời Gia Long được giao cho Nguyễn Văn Thành, tống trấn Gia Định là Lê Văn Duyệt, 2 vị tổng trấn này thay quyền hoàng đế cai trị phía Bắc và Nam, đứng giữa ngai vàng và dân chúng.

Thực tế cả Nguyễn Văn Thành và Lê Văn Duyệt đều xuất thân là võ tướng. Ở phía Bắc vốn là cố đô của nhà Lê, nơi có đông đảo tầng lớp Nho sĩ, trí thức, cựu thần… chính sách chủ đạo của nhà Nguyễn là vỗ về châm chước, lấy lòng. Phía Nam vốn là mảnh đất trù phú, dồi dào về sản vật, tài nguyên thì là được chú trọng khai thác về kinh tế. Chính sách cai trị như trên vào thời Gia Long tạo nên một hậu quả là tăng sự phát triển của tầng lớp quan liêu và giảm đi sự tích tụ tư liệu bản đồ.

Nghành bản đồ học thời Nguyễn không đi theo xu hướng thời Lê mà tiếp nhận phong cách bản đồ đã phát triển dưới thời Minh – Thanh. Phong cách bản đồ này ban đầu được sử dụng dưới thời Minh với bộ bản đồ “Đại Minh nhất thống chí” (大明一統志) vẽ năm 1461, thuật ngữ “Nhất thống chí” tiếp tục được sử dụng về sau này và xuất hiện cả ở Việt Nam vào thế kỷ 19. Kết cấu địa lý được tổ chức theo từng tỉnh, từng khu vực, trong mỗi phần được chia với một danh sách tiêu chuẩn các chủ đề. Tác phẩm đại lý đầu tiên theo motip trên xuất hiện ở Việt Nam là “Ô châu cận lục” (烏州近錄), đây là một tác phẩm địa lý không có bản đồ minh họa xuất hiện vào khoảng giữa thời Mạc.


Vào năm 1806, chắc chắn không lâu sau khi hoàn thành việc thu thập bộ “Hồng Đức bản đồ”, Lê Quang Định hoàn thành “Nhất thống dư địa chí” (Hoàng Việt nhất thống Dư địa chí - 皇越一統輿地志) dưới thời Hoàng đế Gia Long, tác phẩm này không có bản đồ vẽ kèm.

Trong số 10 chương, 4 chương đầu nói tới các tuyến đường đi về phía Bắc và Nam từ kinh đô Huế, tới biên giới, 6 chương còn lại gồm phần Thực lục ghi chép về đường bộ đường thủy ở các Dinh trấn, kể từ đường chính bắt đầu ở lỵ sở đi các nơi. Khi chép về Dinh trấn, có chép sơ lược về cương giới, phong tục, thổ sản, nét đặc trưng riêng của Dinh trấn đó.


“Thiên Tài nhàn đàm”, bản sao chép có chỉnh sửa vào năm 1810 dưới thời Nguyễn từ bản gốc là bản đồ thời Lê, thể hiện lãnh thổ phía Nam trong đó có Gia Định (Trên cùng là hướng Tây, dưới cùng là hướng Đông)

Ở miền Bắc, vẫn có các học giả bảo lưu truyền thống bản đồ học thời Lê. Năm 1810, Đàm Nghĩa Am đã biên soạn bộ “Thiên Tải nhàn đàm”( 天 載 閒 談), theo phong cách bản đồ thời Lê. Bản đồ vẽ hình toàn quốc, cho thấy cái nhìn của người phía Bắc về phần lãnh thổ được mở rộng ra ở phía Nam. Ngay bên cạnh Champa, Đàm Nghĩa Am đặt vùng Gia Định (Thành phố HCM ngày nay), và trong một bản đồ của vùng Tây Nam ông đặt vào đó khu vực Campuchia và Xiêm La. Trong quá trình đó, ông đã bỏ qua vùng bờ biển phía Nam nằm giữa Gia Định và thủ đô cũ của Champa.

Các bản đồ khác trong văn bản, tới từ Bình Nam đồ và bao gồm cả các vùng lãnh thổ bờ biển đã bị mất trên. Phong cách nghệ thuật của bản đồ cũng sinh động hơn khi vẽ hình hổ trên núi, cua trên bãi biển, cá dưới biển. Cố đô cũ của nhà Lê là thành Thăng Long không được gọi tên như thế nữa mà được gọi bằng cái tên mới là Hà Nội, và một số chi tiết mới được thêm vào bản đồ Hà Nội phản ánh sự thay đổi đương thời.



Một bản đồ trong “Giao Châu dư địa đồ”, thể hiện vùng An Quảng, thuộc Đông Bắc Việt Nam (Trên cùng là hướng Tây, dưới cùng là hướng Đông)


Tới khoảng năm 1830 lại xuất hiện một tập bản đồ khác, được gọi là Giao Châu dư địa đồ (交州輿地圖), với 3 phần bản đồ. Được vẽ bằng mực đen, bản đồ có phần vẽ nổi bằng mực xám minh họa mặt nước và bóng núi, màu đỏ cho các con đường. Các minh họa cho núi non đi từ phong cách đơn giản đến phong cách hiện thực hơn, nhiều cảnh quan và núi đá vôi. Điều thú vị là các hòn đảo thay vì được vẽ như các ngọn núi nhô ra trên mặt biển thì đã được vẽ giống đảo hơn với bờ cát bao quanh, có cả hình minh họa khỉ và voi trên núi. Điều này là kết quả của việc nhận thức địa hình tốt hơn và cách tiếp cận thực tế hơn của những nhà bản đồ học Việt Nam thời Nguyễn. Giao Châu dư địa đồ cũng tái tạo phần nào “Đại Man quốc đồ” trong một định dạng rõ ràng hơn trong khi vẫn đề ra một số chi tiết.

Vài năm sau công trình của Đàm Nghĩa Am, “Bắc Thành địa dư chí “ (Bắc Thành dư địa chí lục - 北城地輿誌錄) xuất hiện, như một cuộc khảo nghiệm các vùng thuộc phía Bắc thời Nguyễn, vẫn không có bản đồ đi kèm. Mỗi tỉnh tại khu vực miền Bắc được viết trong 1 chương sách, 11 tỉnh ứng với 11 chương sách.


Bản đồ Gia Định 1815 do Trần Văn Học vẽ. (Trên cùng là hướng Bắc, dưới cùng là hướng Nam).


Phía Nam, cũng có bản đồ riêng của mình, năm 1816, Trần Văn Học hoàn thành bản đồ Gia Định, cung cấp một cái nhìn trực quan và mạnh mẽ về ảnh hưởng của kiến trúc phương Tây lên cách thiết kế thành lũy. Bản thân Trần Văn Học cũng là võ tướng theo hoàng đế Gia Long lâu năm, từng cùng giám mục Bá Đa Lộc liên lạc với người Pháp để nhờ hỗ trợ.

Chính ông cũng là người đầu tiên tiến hành phác họa và xây dựng mẫu thành dạng Vauban, chính là thành Gia Định. Bản đồ cũng do chính ông vẽ vào năm 1815, và ở bản đồ này ta không còn thấy chút nào dấu vết của phong cách bản đồ thời Lê. Các con sông trong bản đồ cung cấp một cảm giác về đo lường chính xác hơn, và thành lũy thì hiện rõ nguồn gốc Vauban. Các đường giao thông, đường dần và tường thành đều có vẻ chính xác, cùng với nhà cửa, ao hồ chạy dọc theo chúng.

Không giống các bản đồ trước vẽ về phía Bắc, bản đồ này cung cấp rõ hơn cảm giác về cuộc sống thường nhật cũng như cuộc sống thương mại trong thành Gia Định hơn. Tuy vậy, tác giả vẽ bản đồ không vẽ các ngọn đồi hay có nất kỳ sự hiển thị về độ cao thấp nào.

Các ký hiệu trên bản đồ cung cấp khá rõ các đặc điểm tự nhiên, dân cư và xã hội, nhưng không như bản đồ thời Lê không có các minh họa chùa chiền, đền miếu, các chốn thiêng liêng và các công trình khác. Tất cả đều đúng trực giao, đúng về quy luật vật lý, không có các góc nhìn thẳng từ mặt trước giống bản đồ cổ.


Tới năm 1820, Học giả Trịnh Hoài Đức đã hoàn thành tác phẩm “Gia Định thành thông chí” (嘉定城通志), đây cũng là một tác phẩm đại dư không có bản đồ, nói về năm vùng thuộc lãnh thổ trấn Gia Định (Nam Bộ Việt Nam ngày nay). Trong khoảng 1 thập kỷ sau tiếp tục xuất hiện “Nam Kỳ hội đồ” (南圻會圖) với bản đồ của toàn quốc cũng như bản đồ cụ thể của 6 tỉnh Nam Kỳ. Bộ bản đồ này thì đã hoàn toàn theo phong cách Châu Âu.

Năm 1833, dưới thời Hoàng đế Minh Mạng bộ "Hoàng Việt dư địa chí" (皇越地輿志) được hoàn thành. Dù là bộ địa dư mang tính chất quốc gia nhưng nó cũng khá ngắn gọn, vẫn không có bản đồ, lãnh thổ cả nước chủ yếu được nói trong 2 chương, tập trung vào miền Bắc và miền Trung.

Phải tới cuối những năm 1830, nước Đại Nam mới có thể thu thập đầy đủ thông tin về các vùng trong toàn quốc.

Từ đó các bộ địa lý, bản đồ chất lượng hơn mới ra đời, đầu tiên là Đại Nam (Hoặc Nam Việt) bản đồ, nó đi theo hướng truyền thống kiểu “Hồng Đức bản đồ” nhưng vẫn có sự biến đổi nhất định. Nó bao gồm 4 bản đồ miền Bắc trích ra từ “Thiên Nam tứ chí lộ đồ”, bản đồ Cao Bằng, bản đồ các tuyến đường phía Nam trích ra từ “Bình Nam đồ”, bản đồ Thái Lan trích từ “Đại Man quốc đồ”.

Tuy nhiên một nét riêng của tập bản đồ này là Campuchia không còn được vẽ với tư cách là một quốc gia riêng lẻ nữa mà được vẽ với tư cách là Cao Miên phủ, vì lúc này Campuchia đã bị sát nhập vào lãnh thổ của nước Đại Nam, đồng thời Angkor cũng không còn được vẽ trong lãnh thổ Cao Miên phủ.

Cùng thời gian, triều đình nhà Nguyễn có một chút cởi mở nhất định với phương Tây đủ để tiếp thu khoa học công nghệ từ họ. Từ đó các nhà bản đồ học Việt Nam khác cũng mạnh dạn hơn trong việc sử dụng các kỹ thuật và phong cách phương Tây trong vẽ bản đồ quốc gia, lúc này đã có lãnh thổ tới tận vịnh Thái Lan bao gồm cả Lào và Campuchia, được các văn sĩ nhà Nguyễn gọi là “một đại quốc sừng sững giữa đất trời”.

Năm 1839 xuất hiện “Đại Nam toàn đồ” (Đại Nam nhất thống toàn đồ - 大南ー統全圖) bản đồ của toàn bộ 30 vùng lãnh thổ của đất nước Đại Nam bao gồm cả thuộc địa tại Lào, Campuchia và 82 cửa sông dọc theo bờ biển lãnh thổ của Đại Nam.

Bản đồ này đưa vào phong cách thực tế của bản đồ phương Tây, mô tả chính xác hơn hình dạng bờ biển và thủy văn phức tạp của sông ngoài, thậm chí là hệ thống sông Mekong. Các bản đồ địa phương cũng rất rõ ràng, vẫn tuân thủ nguyên tắc vẽ kiểu Châu Âu cộng với đặc điểm tự nhiên, các khu rừng cũng được thể hiện.


Bản đồ toàn bộ lãnh thổ nhà Nguyễn trong “Đại Nam nhất thống toàn đồ” hoàn thành năm 1839 dưới thời Minh Mạng, được vẽ theo phong cách ảnh hưởng mạnh từ Châu Âu.

Trong khoảng thời gian này xuất hiện thêm 2 tập bản đồ nữa đã sao chép từ tập nhật trình mà chúng tôi giới thiệu ở trên. Đầu tiên là “Thiên Nam tứ chí lộ đồ thư dẫn”, đây là phiên bản đơn giản và truyền thống hơn của lãnh thổ quốc gia trong Đại Nam toàn đồ. Cả 3 bản đồ đều cho thấy khu vực Đông Dương, các cửa sông và đường bờ biển chạy tới tận Campuchia với cách phối cảnh như nhau. Hai bản đồ khác đơn giản hơn, tương tự như bản đồ năm 1839.

Bên cạnh đó trong phần bản thảo của “Thư dẫn” là một biểu đồ thiên văn, cho thấy mô hình của các ngôi sao. Không có các miêu tả để nhận dạng các ngôi sao và chòm sao, cũng không hề có tiêu đề hay ghi chép về bản đồ thiên văn này. Nó chỉ đơn giản có thêm trong phần bản thảo.

Các bản đồ thiên văn khác mà chúng tôi thấy được trong các tài liệu Việt Nam khác bao gồm 1 bản trong Thiên Hạ bản đồ (Tên gốc của Hồng Đức bản đồ). Tại đây các ngôi sao và chòm sao được đặt tên ứng với các con Giáp. Ngoài rat rung tâm của bản đổ thiên văn và định hướng của nó theo hướng được đơn giản hóa, không khoa học lắm vốn hay thấy trong bản đồ thiên văn Trung Hoa và Đông Á.

Mặc dù hoàng đế Thiệu Trị (1841 - 1847) cũng đã cho biên soạn " Đại Nam thông chí" (大南通志) nhưng phải tới thời hoàng đế sau đó là Tự Đức (1848 - 1884), người đã ra lệnh soạn ra tác phẩm địa lý lớn và hoàn chỉnh nhất của triều Nguyễn, nó cũng kết hợp được các văn bản về địa lý cùng với bản đồ.


Một bản đồ trong “Đại Nam nhất thống dư đồ”, miêu tả tỉnh Biên Hòa.

Năm 1861 theo lệnh Tự Đức bộ “Đại Nam nhất thống dư đồ” (大南一統輿圖) được hoàn thành. Tập bản đồ này có bản đồ của tất cả các vùng trong lãnh thổ nhà Nguyễn khi đó trải dài tới tận phía Nam ( thậm chí một vài vùng có nhiều bản đồ được vẽ). Cụ thể hơn “Đại Nam nhất thống dư đồ” 76 bản đồ gồm: Toàn quốc; các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn, Thái Nguyên, Bắc Ninh, Sơn Tây, Hưng Hoá, Tuyên Quang, Quảng Yên, Hải Dương, Hưng Yên, Nam Định, Hà Nội, Ninh Bình, Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Thừa Thiên, Qủang Trị, Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà, Bình Thuận, Biên Hoà, Gia Định, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên và một số phủ thuộc các tỉnh trên. Mỗi tỉnh đều có ghi về diên cách, số nhân khẩu ruộng đất, thuế nộp hàng năm.


Bản đồ toàn quốc trong “Đại Nam nhất thống dư đồ”, không quá khác biệt so với “Đại Nam nhất thống toàn đồ” thời Minh Mạng.


Một số ảnh hưởng của phương Tây trong bản đồ này thể hiện qua cách vẽ các đường ranh giới, các hệ thống sông và đường bờ biển. Đồng thời nó cũng mang tính chất quốc tế hơn, các quốc gia xung quanh được hiển thị nhiều hơn so với các bản đồ trước đó. Ví dụ hệ thống sông Mekong được hiểu tốt hơn.
Từ năm 1865 tới năm 1882 vẫn dưới thời vua Tự Đức, Bộ địa dư đồ sộ “Đại Nam nhất thống chí” (大南一統志) được biên soạn dựa trên bộ bản đồ “Đại Nam nhất thống dư đồ” chúng tôi đã giới thiệu ở trên.

Nếu như “Đại Nam nhất thống dư đồ” là bộ bản đồ lớn nhất của nhà Nguyễn thì “Đại Nam nhất thống chí” còn vượt xa hơn trở thành bộ sách địa dư – lịch sử lớn nhất trong lịch sử các triều đại phong kiến Việt Nam. Bộ sách chịu ảnh hưởng nhất định của bộ “Đại Thanh nhất thống chí” (大清一統志)soạn từ năm 1686 – 1842 từ thời Khang Hy tới Đạo Quang nhà Thanh.


Bản đồ cả nước trong quyển 1 của “Đại Nam nhất thống chí”.

Giống như trong “Đại Thanh nhất thống chí” thì “Đại Nam nhất thống chí” cũng thể hiện kinh đô Huế, phủ Thừa Thiên và 29 tỉnh còn lại trong cả nước. Các tỉnh được miêu tả với các chi tiết như: Đặc chung của tỉnh, các địa phương cấu thành tỉnh, đặc điểm tự nhiên - xã hội, dân cư - văn hóa - phong tục, thành lũy – làng xã, danh nhân lịch sử, các danh lam, thuế, sản vật đặc trưng.

Bản đồ kinh thành Huế trong quyển 1 của "Đại Nam nhất thống chí".

Các nhà địa lý học dưới thời Tự Đức là những người duy nhất bao quát được cả quốc gia trong thế kỷ 19. Dù cho sau này 6 tỉnh Nam Kỳ mất vào tay người Pháp năm 1867, sau đó là nền độc lập của quốc gia vào năm 1884.
Bản đồ kinh thành Huế trong quyển 1 của “Đại Nam nhất thống chí”.

Tuy vậy các hoàng đế nhà Nguyễn chưa bao giờ thôi hi vọng về việc tái thống nhất quốc gia. Gần như ngay lập tức sau khi Pháp chiếm được Bắc Kỳ, hoàng đế Đồng Khánh (1885 – 1889) đã cho biên soạn bộ địa dư “Đồng khánh địa dư chí lược” (同慶地輿志略) hay còn gọi là “Đồng Khánh địa dư chí” (同慶地輿志) với phong cách tiếp tục Âu hóa hơn nữa tuy nhiên chỉ thể hiện khu vực miền Trung và Bắc Việt Nam vì 6 tỉnh Nam Kỳ vào năm 1867 đã thuộc về Pháp.


Ngoài ra trong triều Đồng Khánh còn xuất hiện một bộ bản đồ tập hợp bản đồ các triều đại gọi là “Đại Nam quốc biên giới vị (vựng) biên” (大南國疆界彙編) hoặc còn có tên “Đại Nam cương giới vựng biên lược sao” (大南疆界彙編略抄) do các tác giả Hoàng Hữu Xứng, Nguyễn Hữu Độ, Phan Đình Xứng biên soạn. Bao gồm 1 bản đồ toàn quốc, 1 bản đồ kinh đô và mỗi tỉnh trong cả nước khi đó ( 31 tỉnh) đều có 1 bản đồ riêng. Các bản đồ vẽ theo phong cách một nửa truyền thống, một nửa phương Tây. Trong bản đồ bán đảo Đông Dương nhìn chung có thể dễ dàng nhận ra, đường bờ biển vẫn thể hiện theo kiểu cũ. Hệ thống sông Cửu Long được vẽ khá giống trong “Đại Nam nhất thống dư đồ”.


Sau đó 2 thập kỷ (Khoảng năm 1909) dưới thời hoàng đế Duy Tân (1907 – 1916), một tái bản của “Đại Nam nhất thống chí” xuất hiện dù lần này chỉ gói gọn trong lãnh thổ Miễn Trung. Phiên bản này có 17 chương, mỗi chương có 1 bản đồ, thể hiện tổng cộng 11 tỉnh, kinh đô và phủ Thừa Thiên, thêm vào đó là bản đồ quốc gia, ngoài ra có cả bản đồ Tử Cấm Thành ở Huế. Phiên bản này có hướng Âu hóa tới mức xuất hiện minh họa la bàn trên bản đồ, cùng các dấu hiệu xác định như đường sắt. Nét vẽ sông và biển khá thực tế nhưng núi thì không được thể hiện.


Trong thời kỳ là thuộc địa của Pháp, các học giả Việt Nam bắt đầu phát triển phong cách bản đồ mới, có một chút thiếu thực tế và nhiều chất Á Đông hơn. Ta có thể thấy nó trong 2 tập bản đồ là “Nam Bắc kỳ họa đồ”, tập bản đồ này là bản sao chép có chỉnh sửa của “Đại Nam nhất thống dư đồ” (1860). “Nam Bắc kỳ họa đồ” cho thấy sự ảnh hưởng nhất định từ xu hướng thực tế của phương Tây. Nhưng những người vẽ bản đồ cuối cùng vẫn lựa chọn phong cách nặng theo hướng Trung Quốc hơn với nét vẽ biển cuộn sóng tròn và núi hình thẳng đứng, chạy theo đường Các-xtơ (Karst).


Tập bản đồ thứ 2 là “Tiền Lê Nam Việt bản đồ mô bản” (前黎難越版圖摹本) Tập bản đồ Việt Nam: bản đồ Thãng Long, 13 thừa tuyên và 2 bản đồ toàn quốc. Đây là bản sao tập bản đồ thời Lê và phần vẽ thêm vào năm 1839. Ngoài sự thể hiện như truyền thống bản đồ này còn cho thấy hệ thống sông và đường bờ biển Đông Dương. Tuy nhiên sự diễn tả của bản đồ này là một bước đi từ phong cạch hiện thực kiểu Phương Tây thế kỷ 19 tới phong cách ấn tượng kiểu Á Đông.

Trong thực tế 2 tác phẩm này có thể đại diện cho một sự lựa chọn của các văn nhân Việt Nam khi đó, họ từ chối cách vẽ bản đồ khoa học và chi tiết kiểu Pháp mà hướng theo phong cách nghệ thuật kiểu Trung, đây cũng gần như là một hình thức tỏ thái độ chính trị ngầm của họ với sự cai trị của Pháp.


Một tập bản đồ khác vào giữa thế kỷ 19 miêu tả các thành lũy xây theo kiểu Vauban được nhà Nguyễn học tập từ người Pháp. Trong kho tài liệu của Département et région d'outre-mer (Bộ thuộc địa Pháp) còn lưu giữ một số bản đồ kiểu này, đó là bản đồ các tỉnh Hà Nội, Sơn Tây, Tuyên Quang, Nam Định và Nha Trang. Mỗi bản đồ đều vẽ những điều khác nhua nhưng cùng chung phong cách bản đồ phương Tây, phản ánh trong đó nhiều điều bao gồm cả hệ thống thành lũy.

Bất chấp những khác biệt các bản đồ này đều phản ánh thiết kế thành lũy kiểu Vauban từ thời Trần Văn Học vẽ bản đồ Gia Định năm 1816. Tuy vậy các bản đồ này không phải bản đồ đô thị chi tiết như của Trần Văn Học. Chúng mặc dù vẽ theo kiểu phương Tây nhưng kết cấu rất đơn giản và gần như kết cấu của bản đồ thời Lê, chỉ thế hiện tường thành và các công trình quan trọng của chính phủ, cùng một số công trình nghi lễ, không xuất hiện miêu tả nào về đời sống dân cư – kinh tế.


Trong quá trình tấn công Bắc Kỳ lần 2 những năm 1880 - 1884, người Pháp cũng đã tiến hành vẽ bản đồ và dùng các bản đồ địa phương để hỗ trợ chiến tranh và cai trị. Thư viện Quốc gia Pháp và thư việc bang Bayern ở Munich, Đức còn giữ 2 bản đồ mà rõ ràng đã được người Pháp sử dụng trong chiến dịch này. Họ đã sao chép bản đồ địa phương hoặc ủy quyền cho ai đó vẽ bản đồ để biết được thông tin về địa hình. Trên bản đồ còn có hệ thống ký tự Latinh tức là chữ quốc ngữ, điều này chỉ ra sự khéo thích nghi với môi trường của người vẽ ra bản đồ.

Chúng ta có 1 bản đồ Hà Nội, 1 của Ninh Bình và còn lại là Nam Định là những vùng thuộc Nam đồng bằng sông Hồng, tiếp đó là 2 bản đồ Sơn Tây, 6 bản đồ vùng núi phía Bắc và Tây Bắc ( Thuộc các tỉnh Lào Cai, Thái Nguyên, Lạng Sơn), tổng cộng 13 bản đồ. Bản đồ được vẽ với mực đen, màu khác được dùng cho mục đích khác (các tuyến đường màu đỏ, sông ngoài màu xanh, núi màu nâu hoặc xám).

Thành quách được vẽ với đặc trưng hình dạng Vauban của chúng. Mười ba bản đồ trên cho thấy dấu hiệu sự tồn tại sẵn có của những bản đồ thuộc miền Bắc Việt Nam nửa cuối thế kỷ 19.

Các dạng bản đồ địa phương khác cũng tồn tại trong thời Nguyễn. Các danh mục sưu tập tại Hà Nội liệt kê một số bản đồ các làng xã, nhưng chúng tôi nhận thấy không cần phải giới thiệu chúng ở đây. Một loại bản đồ địa phương khác cũng rất quan trọng với chính phủ đó là địa bộ. Các địa bộ này ghi chép về từng làng, cho thấy mỗi vùng đất, kích thước và kiểu đất. Chính phủ đã tiến hành các cuộc điều tra theo từng phần, mặc dù chúng tôi vẫn chưa biết các thức cụ thể của việc điều tra ra sao.

Bản đồ lăng tẩm hoàng gia triều Nguyễn, trích từ “Les Tombeaux de Hue: Cia-Long” của Charles Patris và L. Cadiere.

Các tập bản đồ cuối cùng mà chúng tôi quan tâm trong công trình nghiên cứu này lại rất khác biệt. Đó là bản đồ vẽ lại sơ đồ các lăng tẩm của nhà Nguyễn. Nó được vẽ với nét vẽ của Âu hóa, nhưng các đặc tính bên trong thì lại đậm chất Á Đông, họ đã vẽ nổi bật núi và nước, phản ánh ảnh hưởng vẫn còn rất mạnh mẽ của văn hóa Á Đông vào thời Nguyễn. Nhà nghiên cứu Rolf Stein trong cuốn “The World in Miniature” đã chỉ ra sự liên quan mật thiết giữa các lăng mộ này với các mô hình giả sơn cổ, vì chúng đều tuân theo quy luật phong thủy, các dấu hiệu tín ngưỡng, tôn giáo.
Kết luận
Sự phát triển của nghành bản đồ học Việt Nam luôn đi cùng với các cố gắng của các chính quyền trong lịch sử nhằm mở rộng sự kiểm soát với đất nước. Bản đồ thể hiện các địa điểm nằm trong quyền kiểm soát của nhà nước và triều đình thông qua bản đồ để nắm được thông tin từ đó tìm cách cai trị, khai thác nguồn nhân lực, vật lực, tài nguyên.
Bởi vậy bản đồ Việt Nam thời kỳ tiền hiện đại gắn chặt với sự bảo trợ của chính quyền, cũng như mô hình quan liêu, mô hình quốc gia ảnh hưởng từ Trung Hoa. Cũng từ đó phần lớn phong cách của bản đồ là theo kiểu Trung.
Trong thời kỳ Lý – Trần khi mà mức độ tập trung chuyên chế quan liêu, cũng như sự chặt chẽ của nhà nước còn chưa cao thì việc thu tjaap dữ liệu để vẽ bản đồ cũng tương tự. Tới thời Lê và Nguyễn khi chế độ quân chủ tập quyền ngày càng hoàn thiện thì nhu cầu vẽ bản đồ và khả năng cung cấp tư liệu để vẽ bản đồ cũng ngày càng cao hơn.
Nội dung thể hiện của bản đồ Việt Nam chủ yếu là trong phạm vi quốc gia ít ở bên ngoài. Nếu có thì thường là nói tới các tuyến đường đi tới biên giới phía Bắc hoặc Nam, chứ không xa hơn. Các tuyến đường đi về phương Nam thường có điểm cuối là thủ đô Champa, nhưng lãnh thổ của Champa sau đó cũng sát nhập với Việt Nam. Cũng có khi chúng tiến tới khu vực Campuchia mà cụ thể hơn là Angkor, nhưng thời Nguyễn Campuchia cũng bị sát nhập. Chỉ có các tuyến đường đi tới Trung Hoa và Xiêm La, là những vùng lãnh thổ ngoài Việt Nam hiếm hoi được thể hiện, những cũng chỉ được thể hiện qua các bản đồ đường bộ là chủ yếu, ít có bản đồ đường thủy. Còn bản đồ đường biển thì không thấy xuất hiện trong lịch sử bản đồ Việt Nam. Tuy nhiên các ảnh hưởng của phương Tây mạnh mẽ vào Việt Nam trong khoảng cuối thế kỷ 18 đầu thế kỷ 19 cũng đã cung cấp thêm những cái nhìn và các chi tiết về một khu vực Đông Nam Á trong các bản đồ vào thời điểm đó. Tuy vậy, Đông Á nói riêng và Châu Á nói chung, rộng hơn là bản đồ thế giới cũng vẫn xuất hiện mờ nhạt trong lịch sử bản đồ Việt. Các bản nhật trinh cung cấp nhiều thông tin giá trị về Việt Nam và một số địa điểm nước ngoài thực chất vẫn nằm trong khuôn khổ văn hóa trước những năm 1800. Cho tới giữa thế kỷ 19, bản đồ Việt Nam không đi theo hướng chú trọng thực tế, những phong cách vẽ bản đồ mới du nhập từ phương Tây chủ yếu dành cho các bản đồ của nhà nước.
Nghiên cứu của chúng tôi hiện tại chỉ mang tính khởi đầu, chắc chắn còn rất nhiều câu hỏi cần được trả lời, nhiều vẫn đề còn cần được nghiên cứu dựa vào các nguồn tìa liệu khác nhau. Nhìn chung, chúng ta khi nghiên cứu về lịch sử bản đồ học Việt Nam cần sử dụng các dữ liệu bản đồ để tăng hiểu biết về xã hội, lịch sử Việt, cũng như sự tự nhận biết, liên kết, phát triển của nó với thế giới qua các thời đại.


Hết.
Reply With Quote
Reply

Thread Tools

Posting Rules
You may not post new threads
You may not post replies
You may not post attachments
You may not edit your posts

BB code is On
Smilies are On
[IMG] code is On
HTML code is Off

Forum Jump





All times are GMT +7. The time now is 19:01.


Steam Powered by vBulletin® 0.1 pre-alpha
Copyright ©2000 - 2017, Jelsoft Enterprises Ltd.