Read-only archive. Login and posting are unavailable.

PDA

View Full Version : cho em hỏi tất tần tật về máy tính ạ


emoklaga113
01-05-2013, 17:59
mấy bác có thể giải thích tất tần tật về máy tính và cách lắp ráp cách sửa nếu có bộ phận nào hư ! nhiêu đó thôi ạ :sexy: ! máy tính nhà em nó hư mở ra vọc có mấy cọng dây điện em tháo lung tung cứ tưởng lắp sao cũng được ai ngờ lắp mãi vẫn không mở lên được nên em nhờ mấy bác chỉ em mấy cái trên :byebye: ! thanks ạ ! gạch đá thoải mái em nha mấy bác ! em xin thu hết :gach:! và cho em hỏi card a tì với card nvidia thì em nên chọn thằng nào ram và chip ạ :adore:

b0ybg
01-05-2013, 18:44
câu trả lời tất cả cho bạn là google :D !

phoenix1234
01-05-2013, 20:58
Câu hỏi thật ra là rất khó vì máy tính quá rộng. Bạn nên tìm hiểu qua tài liệu trên mạng, diễn đàn voz và các diễn đàn vi tính khác. Để trả lời cho câu hỏi ATI và NVIDIA nên chọn cái nào thì cũng tùy theo dòng và giá tiền bạn muốn bỏ ra, lấy ví dụ NVIDIA GTX 550 Ti là một card tốt nhưng Radeon HD 7850 cũng là một sự lựa chọn thông minh. Chúc bạn tìm được card như ý.

emoklaga113
02-05-2013, 00:01
Câu hỏi thật ra là rất khó vì máy tính quá rộng. Bạn nên tìm hiểu qua tài liệu trên mạng, diễn đàn voz và các diễn đàn vi tính khác. Để trả lời cho câu hỏi ATI và NVIDIA nên chọn cái nào thì cũng tùy theo dòng và giá tiền bạn muốn bỏ ra, lấy ví dụ NVIDIA GTX 550 Ti là một card tốt nhưng Radeon HD 7850 cũng là một sự lựa chọn thông minh. Chúc bạn tìm được card như ý.

thím có thể cho em tài liệu về tất cả cái đó được không thím :sexy:! em không kiếm được nên mới lên đây ạ :sexy:

Te thien dai pha
02-05-2013, 00:59
máy tính là máy dùng để tính toán.
còn nếu muốn hiểu từ a-z thì qua bên KĨ THUẬT PHẦN CƯƠNG(CỨNG) là hiểu ngay, bên đó có tài liệu cho newbie khá hay, viết hết ra thì dài dòng lắm, mình cũng có tài liệu dạng chw nhưng ko biết up kiểu gì

Te thien dai pha
02-05-2013, 01:02
BÀI 1

CẤU TRÚC MÁY TÍNH

-------------

I. Các khái niệm cơ bản:

1. Phần cứng (Hardware):

Phần cứng là các thiết bị vật lý của máy tính.

2. Phần mềm (Software):

Là các chương trình được thiết kế chứa các mã lệnh giúp phần cứng làm việc phục vụ nhu cầu người sử dụng. Phần mềm được lưu trữ trong các thiết bị lưu trữ.

Phần mềm chia làm 2 loại:

Phần mềm hệ thống (System Softwares): bao gồm các hệ điều hành điều khiển, quản lý phần cứng và phần mềm ứng dụng; các trình điều khiển trình thiết bị (driver).

Phần mềm ứng dụng (Application Softwares): là các phần mềm chạy trên nền các hệ điều hành để giúp người sử dụng thao tác với máy tính.

3. Các loại máy tính thông dụng:

3.1 Mainframe:

Hình bên là một siêu máy tính của hãng IBM với tốc độ nhanh nhất thế giới hiện nay.
Là những máy tính có cấu hình phần cứng lớn, tốc độ xử lý cao được dùng trong các công việc đòi hỏi tính toán lớn như làm máy chủ phục vụ mạng Internet, máy chủ để tính toán phục vụ dự báo thời tiết, vũ trụ.....


3.2 PC - Persional Computer:

Máy vi tính cá nhân, tên gọi khác máy tính để bàn (Desktop). Đây là loại máy tính thông dụng nhất hiện nay.

3.3 Laptop, DeskNote, Notebook

Là những máy tính xách tay, kê đùi.


3.4 PDA - Persional Digital Assistant

Thiết bị hỗ trợ kỹ thuật số cá nhân. Tên gọi khác: máy tính cầm tay, máy tính bỏ túi (Pocket PC).
Ngày nay có rất nhiều điện thoại di động có tính năng của một PDA.


II. Cấu trúc máy tính:

THIẾT BỊ NHẬP Û
THIẾT BỊ XỬ LÝ
Û THIẾT BỊ XUẤT

o

THIẾT BỊ LƯU TRỮ


1. Thiết bị nhập (Input Devices)

Là những thiết bị nhập dữ liệu vào máy tính như bàn phím, chuột, máy quét, máy scan...

2. Thiết bị xử lý (Processing Devies)

Là những thiết bị xử lý dữ liệu bao gồm bộ vi xử lý, bo mạch chủ.

3. Thiết bị lưu trữ (Stogare Devices)

Là những thiết bị lưu trữ dữ liệu bao gồm bộ nhớ trong và bộ nhớ ngoài.

Bộ nhớ trong bao gồm bộ nhớ chì đọc ROM, bộ nhớ truy xuất ngẫu nhiên RAM.

Bộ nhớ ngoài bao gồm ổ cứng, đĩa mềm, đĩa CD, DVD, ổ cứng USB, thẻ nhớ và các thiết bị lưu trữ khác.

4. Thiết bị xuất (Output Devices)

Là những thiết bị hiển thị và xuất dữ liệu từ máy tính. Thiết bị xuất bao gồm màn hình

Te thien dai pha
02-05-2013, 01:08
BÀI 2

THÀNH PHẦN CỦA MÁY TÍNH

--------------------------

I. THIẾT BỊ NỘI VI

1. Vỏ máy - Case

Công dụng: Thùng máy là giá đỡ để gắn các bộ phận khác của máy và bảo vệ các thiết bị khỏi bị tác động bởi môi trường.





Case chưa sử dụng
Case đang sử dụng
Case hết sử dụng


2. Bộ nguồn - Power

Công dụng: là thiết bị chuyển điện xoay chiều thành điện 1 chiều để cung cấp cho các bộ phận phần cứng với nhiều hiệu điện thế khác nhau.

Bộ nguồn thường đi kèm với vỏ máy.



3. Bảng mạch chủ (Mainboard, Motherboard)

Công dụng: Là thiết bị trung gian để gắn kết tất cả các thiết bị phần cứng khác của máy.

Nhận dạng: là bảng mạch to nhất gắn trong thùng máy.




3.1 Bên trong mainboard

3.1.1 Chipset

Công dụng: Là thiết bị điều hành mọi hoạt động của mainboard.
Nhân dạng: Là con chíp lớn nhấn trên main và thừơng có 1 gạch vàng ở một góc, mặt trên có ghi tên nhà sản xuất.

Nhà sản xuất: Intel, SIS, ATA, VIA...



3.1.2 Giao tiếp với CPU.

Công dụng: Giúp bộ vi xử lý gắn kết với mainboard.

Nhân dạng: Giao tiếp với CPU có 2 dạng khe cắm (slot) và chân cắm (socket).

+ Dạng khe cắm là một rãnh dài nằm ở khu vực giữa mainboard dùng cho PII, PIII đời cũ. Hiện nay hầu như người ta không sử dụng dạng khe cắm.

+ Dạng chân cắm (socket) là một khối hình vuông gồm nhiều chân. Hiên nay đang sử dụng socket 370, 478, 775 tương ứng với số chân của CPU.








3.1.3 AGP Slot

Khe cắm card màn hình AGP viết tắt từ Array Graphic Adapter.



Công dụng: Dùng để cắm card đồ họa.

Nhận dạng: Là khe cắm màu nâu hoặc màu đen nằm giữa socket và khe PCI màu trắng sữa trên mainboard.

Lưu ý: Đối với những mainboard có card màn hình tích hợp thì có thể có hoặc không có khe AGP. Khi đó khe AGP chỉ có tác để nâng cấp card màn hình bằng card rời nếu cần thiết để thay thế card tích hợp trên mainboard.




3.1.4 RAM slot

Công dụng: Dùng để cắm RAM và main.
Nhận dạng: Khe cắm RAM luôn có cần gạt ở 2 đầu.

Lưu ý: Tùy vào loại RAM (SDRAM, DDRAM, RDRAM) mà giao diện khe cắm khác nhau.


3.1.5 PCI Slot

PCI - Peripheral Component Interconnect - khe cắm mở rộng



Công dụng: Dùng để cắm các loại card như card mạng, card âm thanh, ...

Nhận dạng: khe màu trắng sử nằm ở phía rìa mainboard.




3.1.6 ISA Slot

Khe cắm mở rộng ISA - Viết tắt Industry Standard Architecture.

Công dụng: Dùng để cắm các loại card mở rộng như card mạng, card âm thanh...

Nhận dạng: khe màu đen dài hơn PCI nằm ở rìa mainboard (nếu có).

Lưu ý: Vì tốc độ truyền dữ liệu chậm, chiếm không gian trong mainboard nên hầu hết các mainboard hiện nay không sử dụng khe ISA.


3.1.7 IDE Header

Viết tắt Intergrated Drive Electronics - là đầu cắm 40 chân, có đinh trên mainboard để cắm các loại ổ cứng, CD
Mỗi mainboard thường có 2 IDE trên mainboard:

IDE1: chân cắm chính, để cắm dây cáp nối với ổ cứng chính

IDE2: chân cắm phụ, để cắm dây cáp nối với ổ cứng thứ 2 hoặc các ổ CD, DVD...

Lưu ý: Dây cắp cắm ổ cứng dùng được cho cả ổ CD, DVD vì 2 IDE hoàn toàn giống nhau.


3.1.8 FDD Header

Là chân cắm dây cắm ổ đĩa mềm trên mainboard. Đầu cắm FDD thường nằm gần IDE trên main và có tiết diện nhỏ hơn IDE.
Lưu ý khi cắm dây cắm ổ mềm: đầu bị đánh tréo cắm vào ổ, đầu không tréo cắm vào đầu FDD trên mainboard.


3.1.9 ROM BIOS

Là bộ nhớ sơ cấp của máy tính. ROM chứa hệ thống lệnh nhập xuất cơ bản (BIOS - Basic Input Output System) để kiểm tra phần cứng, nạp hệ điều hành nên còn gọi là ROM BIOS.

3.1.10 PIN CMOS

Là viên pin 3V nuôi những thiết lập riêng của người dùng như ngày giờ hệ thống, mật khẩu bảo vệ ...




3.1.11 Jumper
Jumper là một miếng Plastic nhỏ trong có chất dẫn điện dùng để cắm vào những mạch hở tạo thành mạch kín trên mainboard để thực hiện một nhiệm vụ nào đó như lưu mật khẩu CMOS.

Jumper là một thành phần không thể thiếu để thiết lập ổ chính, ổ phụ khi bạn gắn 2 ổ cứng, 2 ổ CD, hoặc ổ cứng và ổ CD trên một dây cáp.



3.1.12 Power Connector.

Bạn phải xác định được các loại đầu cắm cáp nguồn trên main:
Đầu lớn nhất để cáp dây cáp nguồn lớn nhất từ bộ nguồn.
Đối với main dành cho PIV trở lên có một đầu cáp nguồn vuông 4 dây cắm vào main.


3.1.13 FAN Connector

Là chân cắm 3 đinh có ký hiệu FAN nằm ở khu vực giữa mainboard để cung cấp nguồn cho quạt giải nhiệt của CPU.

Trong trường hợp Case của bạn có gắn quạt giải nhiệt, nếu không tìm thấy một chân cắm quạt nào dư trên mainboard thì lấy nguồn trực tiếp từ các đầu dây của bộ nguồn.


3.1.14 Dây nối với Case

Mặt trước thùng máy thông thường chúng ta có các thiết bị sau:

Nút Power: dùng để khởi động máy.

Nút Reset: để khởi động lại máy trong trừơng hợp cần thiết.

Đèn nguồn: màu xanh báo máy đang hoạt động.

Đèn ổ cứng: màu đỏ báo ổ cứng đang truy xuất dữ liệu.

Các thiết bị này được nối với mainboard thông qua các dây điên nhỏ đi kèm Case.

Trên mainboard sẽ có những chân cắm với các ký hiệu để giúp bạn gắn đúng dây cho từng thiết bị.


3.2 Bên ngoài mainboard:



3.2.1 PS/2 Port

Công dụng: Cổng gắn chuột và bàn phím.

Nhận dạng: 2 cổng tròn nằm sát nhau. Màu xanh đậm để cắm dây bàn phím, màu xanh lạt để dây chuột.


3.2.2 USB Port

Cổng vạn năng - USB viết tắt từ Universal Serial Bus

Công dụng: Dùng để cắm các thiết bị ngoại vi như máy in, máy quét, webcame ...; cổng USB đang thay thế vai trò của các cổng COM, LPT.

Nhận dạng: cổng USB dẹp và thường có ít nhất 2 cổng nằm gần nhau và có ký hiệu mỏ neo đi kèm.

Lưu ý!: Đối vói một số thùng máy (case) có cổng USB phía trước, muốn dùng được cổng USB này bạn phải nối dây nối từ Case vào chân cắm dành cho nó có ký hiệu USB trên mainboard.


3.2.3 COM Port

Cổng tuần tự - COM viết tắt từ Communications.

Công dụng: Cắm các loại thiết bị ngoại vi như máy in, máy quyét,... Nhưng hiện nay rất ít thiết bị dùng cổng COM.

Nhận dạng: là cổng có chân cắm nhô ra, thường có 2 cổng COM trên mỗi mainboard và có ký hiệu COM1, COM2


3.2.4 LPT Port

Cổng song song, cổng cái, cổng máy in - LPT viết tắt từ Line Printer Terminal

Công dụng: thường dành riêng cho cắm máy in. Tuy nhiên đối với những máy in thế hệ mới hầu hết cắm vào cổng USB thay vì cổng COM hay LPT.

Nhận dạng: Là cổng dài nhất trên mainboard.


Trên đây là 4 loại cổng mặc định phải có trên mọi mainboard. Còn các loại cổng khác là những loại card được tích hợp trên main, số lượng là tùy vào loại main, tùy nhà sản xuất.

4. VGA Card

Card màn hình - VGA viết tắt từ Video Graphic Adapter.

Công dụng: là thiết bị giao tiếp giữa màn hình và mainboard.

Đặc trưng: Dung lượng, biểu thị khả năng xử lý hình ảnh tính bằng MB (4MB, 8MB, 16MB, 32MB, 64MB, 128MB, 256MB, 512MB, 1.2 GB...)

Nhân dạng: card màn hình tùy loại có thể có nhiều cổng với nhiều chức năng, nhưng bất kỳ card màn hình nào cũng có một cổng màu xanh đặc trưng như hình trên để cắm dây dữ liệu của màn hình.

Nhận dạng:

Dạng card rời: cắm khe AGP, hoặc PCI

Dạng tích hợp trên mạch (onboard)

Lưu ý!: Nếu mainboard có VGA onboard thì có thể có hoặc không khe AGP. Nếu có khe AGP thì bạn có thể nâng cấp card màn hình bằng khe AGP khi cần.


Card màn hình Onboard là cổng màu xanh đặc trưng



VGA cắm khe PCI VGA cắm khe AGP


5. HDD

Ổ đĩa cứng HDD viết tắt từ Hard Disk Drive

Cấu tạo: gồm nhiều đĩa tròn xếp chồng lên nhau với một motor quay ở giữa và một đầu đọc quay quanh các lá đĩa để đọc và ghi dữ liệu (xem hình bên).

Công dụng: ổ đĩa cứng là bộ nhớ ngoài quan trọng nhất của máy tính. Nó có nhiệm vụ lưu trữ hệ điều hành, các phần mềm ứng dụng và các dữ liệu của người sử dụng.

Đặc trưng: Dung lượng nhớ tính bằng MB, và tốc độ quay tính bằng số vòng trên một phút - rounds per minute (rpm)

Mách bạn: HDD hiện nay trên thị trường có 2 tốc độ 5400rpm, 7200 rpm


Sử dụng: HDD nối vào cổng IDE1 trên mainboard bằng cáp (hình trên), và một dây nguồn 4 chân từ bộ nguồn vào phía sau ổ.

Lưu ý:

Dây cáp dữ liệu của HDD cũng có thể dùng cắm cho các ổ CD, DVD.

Trên một IDE bạn có thể gắn được nhiều ổ cứng, ổ CD tùy vào số đầu của dây cáp dữ liệu.

Dây cáp dữ liệu của ổ cứng khác cáp dữ liệu của ổ mềm.


6. RAM

Bộ nhớ truy xuất ngẫu nhiên - RAM viết tắt từ Random Access Memory.

Công dụng: Lưu trữ những chỉ lệnh của CPU, những ứng dụng đang hoạt động, những dữ liệu mà CPU cần ...

Đặc trưng:

Dung lượng tính bằng MB.

Tốc độ truyền dữ liệu (Bus) tính bằng Mhz.

Phân loại:

Giao diện SIMM - Single Inline Memory Module.

Giao diện DIMM - Double Inline Memory Module.

6.1 Giao diện SIMM

Giao diện SIMM là những loại RAM dùng cho những mainboard và CPU đời cũ. Hiện nay loại Ram giao diện SIMM này không còn sử dụng.

6.2 Giao diện DIMM

Là loại RAM hiện nay đang sử dụng với các loại RAM sau:

6.2.1 SDRAM

Nhận dạng: SDRAM có 168 chân, 2 khe cắt ở phần chân cắm.

Tốc độ (Bus): 100Mhz, 133Mhz.

Dung lượng: 32MB, 64MB, 128MB.

Lưu ý!: SDRAM sử dụng tương thích với các mainboard socket 370 (Mainboard socket 370 sử dụng CPU PII, Celeron, PIII).


6.2.2 DDRAM

Nhận dạng: SDRAM có 184 chân, chỉ có 1 khe cắt ở giữa phần chân cắm.

Tốc độ (Bus): 266 Mhz, 333Mhz, 400Mhz

Dung lượng: 128MB, 256MB, 512MB.

Lưu ý!: DDRAM sử dụng tương thích với các mainboard socket 478, 775 ( sử dụng cùng với các loại CPU Celeron Socket 478, P IV)


6.2.3 DDRAM2

Viết tắt là DDR2 - là thế hệ tiếp theo của DDRAM

Nhận dạng: Tốc độ gấp đôi DDRAM, cũng có 1 khe cắt giống DDRAM nhưng DDR2 cắt ở vị trí khác nên không dùng chung được khe DDRAM trên mainboard.

Tốc độ (Bus): 400 Mhz

Dung lượng: 256MB, 512MB


6.2.4 RDRAM

Nhận dạng: Có 184 chân, có 2 khe cắt gần nhau ở phần chân cắm. Bên ngoài RDRAM có bọc tôn giải nhiệt vì nó hoạt động rất mạnh.

Tốc độ (Bus): 800Mhz.

Dung lượng: 512MB

Lưu ý!: RDRAM sử dụng tương thích với mainboard socket 478, 775 (các main sừ dụng PIV, Pentium D)


7. CPU

Bộ vi xử lý, đơn vị xử lý trung tâm - CPU viết tắt từ Center Processor Unit.

Đặc trưng:

Tốc độ đồng hồ (tốc độ xử lý) tính bằng MHz, GHz
Tốc độ truyền dữ liệu với mainboard Bus: Mhz
Bộ đệm - L2 Cache.


Nhà sản xuất: Hiện nay trên thế giớ có 2 hãng sản xuất CPU lớn nhất là AMD và Intel. Riêng ở thị trường VN chủ yếu sử dụng CPU Intel.

Phân loại: Dạng khe cắm Slot, dạng chân cắm Socket.

Dạng khe cắm (Slot)

Slot1: dùng cho những CPU PII, PIII có 242 chân dạng khe cắm của hãng Intel.
Slot A Athlon: dùng cho những CPU 242 chân dạng khe cắm của hãng AMD.



Dạng chân cắm (Socket)

Socket 370: Pentium II, Celeron, Pentitum III
Socket 478: Celeron, Pentium IV
Socket 775: Pentium D.
Lưu ý!: Socket đi kèm với 1 số là số chân của CPU, và phải xác định mainboard có socket bao nhiêu để dùng đúng loại CPU tương ứng.


Socket 370 Socket 478 Socket 775

Tóm tắt:

Thiết bị nội vi là những thiết bị không thể thiếu trong cấu hình của một máy tính.

Phải đảm bảo sự tương thích của các thiết bị khi lắp ráp.

II. Thiết bị ngoại vi:

1. Monitor - màn hình

Công dụng: Là thiết bị hiển thị thông tin cùa máy tính giúp người sử dụng giao tiếp với máy.

Đặc trưng: độ rộng tính bằng Inch.

Phân loại: Màn hình ống phóng điện tử CRT (lồi, phẳng), màn hình tinh thể lỏng LCD, màn hình Plasma.


2. Keyboard - Bàn phím

Công dụng: Bàn phím là thiết bị nhập. Ngoài những chức năng cơ bản, bạn có thể tìm thấy những loại bàn phím có nhiều chức năng mở rộng để nghe nhạc, truy cập internet, hoặc chơi game.

Phân loại:

Bàn phím cắm cổng PS/2.

Bàn phím cắm cổng USB

Bàn phím không dây.


3. Mouse - chuột.

Công dụng: Chuột cũng là một thiết bị nhập, đặc biệt hữu ích đối với các ứng dụng đồ họa.

Phân loại:

- Chuột cơ: dùng bi lăn để xác định vị trí.

- Chuột quang: dùng phản ứng ánh sáng (không có bi lăn)

Sử dụng: Tùy loại chuột có thể cắm cổng PS/2, cổng USB, hoặc không dây.


4. FDD

Ổ đĩa mềm - FDD viết tắt từ Floopy Disk Drive

Sử dụng: Ổ mềm lắp từ bên trong thùng máy. Đầu cáp bị đánh tréo gắn vào ổ, đầu thắng gắn vào đầu cắm FDD trên main.

Lưu ý!: Cáp ổ mềm nhỏ hơn cáp ổ cứng, cáp ổ mềm bị đánh tréo một đầu, đầu này để gắn vào ổ mềm.


5. CD, CD-RW, DVD, Combo-DVD

Công dụng: Là những loại ổ đọc ghi dữ liệu từ ổ CD, VCD, DVD. Vì dùng tia lazer để đọc và ghi dữ liệu nên các loại ổ này còn gọi là ổ quang học.

Đặc trưng: Tốc độ đọc ghi dữ liệu (24X, 32X, 48X, 52X)

Phân loại:


CD-ROM: chỉ đọc đĩa CD, VCD.
CD-RW: đọc và ghi đĩa CD, VCD.
DVD-ROM: chỉ đọc tất cả các loại đĩa CD, VCD, DVD.
Combo-DVD: đọc được tất cả các loại đĩa, ghi đĩa CD, VCD.
6. NIC

Card mạng - NIC viết tắt từ Network Interface Card

Công dụng: Dùng để nối mạng nội bộ.

Nhận dạng: Có 1 đầu cắm lớn hơn đầu cắm dây điện thoại, thường có 2 đèn tín hiệu đi kèm.

Phân loại:

NIC tích hợp trên mạch - onboard
NIC dạng card rời cắm khe PCI.

NIC gắn khe PCI


NIC onboard


7. Sound Card

Công dụng: Card âm thanh là thiết bị xuất và nhập dữ liệu audio của máy tính.

Đặc trưng: Khả năng xử lý Mhz.

Nhận dạng: là thiết bị có ít nhất 3 chân cắm tròn nằm liên tiếp nhau.


Phân loại:

Card tích hợp trên mạch - Sound onboard.
Card rời - gắn khe PCI
Sử dụng: Dựa vào các ký hiệu bằng chữ hoặc bằng màu trên sound card chúng ta cắm các thiết bị như sau:

Line Out (xanh nhạt): để cắm dây audio của loa hoặc tai nghe.
Line In (xanh đậm): cắm dây dữ liệu audio vào từ các thiết bị cần đưa âm thanh vào máy như đàn điện tử ...
Mic (màu đỏ): để cắm dây của micro.
Game (cổng lớn nhất): để cắm cần chơi game Joystick.
8. Modem

Công dụng: Chuyển đổi qua lại giữa tín hiệu điện thoại và tín hiệu máy tính giúp máy tính nối với mạng Internet thông qua dây điện thoại.

Đặc trưng: Tốc độ truyền dữ liệu Kbps, Mbps...


Nhận dạng: Có đầu cắm dây điện thoại.

Phân loại:

Onboard: thường có trên máy xách tay.

External: gắn ngoài như hình 1.

Internet: gắn trong, cắm vào khe PCI trên main như hình 2.



Lưu ý: Đối với modem gắn trong bạn dễ nhầm với card mạng, card mạng có đầu cắm to hơn để cắm dây cáp mạng và có đèn tín hiệu đi kèm.

9. USB Hard Disk

Công dụng: Ổ cứng USB dùng để lưu trữ dữ liệu với dung lượng lớn . Ổ cứng USB còn dùng để nghe nhạc MP3, xem phim MP4.

Đặc trưng: Dung lượng nhớ MB, GB và luôn cắm vào cổng USB trên mainboard.


Sử dụng: Để đảm bảo an toàn dữ liệu và kéo dài tuổi thọ của đĩa cứng USB bạn phải thực hiện thao tác rút đĩa an toàn ra khỏi hệ thống: Khi không dùng đĩa nữa thì kích chuột phải trên biểu tượng đặc trưng của đĩa dưới khay hệ thống, chọn Safe to remove (đối với Windows XP trở lên) hoặc Unplug or Eject hardware (đối với Windows 200 trở xuống). Chọn tên ổ đĩa trong danh sách. Nhấn nút Stop.

10. USB TV

Công dụng: Thiết bị thu sóng truyền hình vào máy tính.

Sử dụng: Cắm USB TV vào cổng USB trên mainboard và cài các phần mềm đi kèm theo hướng dẫn của nhà sản xuất

Lưu ý!: Khi sử dụng USB TV máy bạn cần phải có card màn hình dung lượng lớn để đảm bảo chất lượng hình ảnh.



11. Printer

Công dụng: Dùng để in ấn tài liệu từ máy tính.

Đặc trưng: Độ phân giải dpi (*), tốc độ in (số trang trên 1 phút), bộ nhớ (MB)


Phân loại: In kim, In phun, Lazer

12. Scanner

Công dụng: Máy quét để nhập dữ liệu hình ảnh, chữ viết, mã vạch, mã từ vào máy tính.

Đặc trưng: độ phân giải - dpi (*)

Phân loại:

Máy quyét ảnh: dùng để quyét hình ảnh, film của ảnh chụp, chữ viết... (h1)
Máy quyét mã vạch: dùng quyét mã vạch dùng trong siêu thị để đọc giá tiền của hàng hóa, trong thư viên để đọc mã số SV từ thẻ SV... (h2)
Máy quyét từ: đọc thẻ từ, ứng dụng trong hệ thống cửa thông minh, hệ thống chấm công nhân viên...(h3)
(*) dpi viết tắt từ dots per inch - số điểm ảnh trên mỗi inch vuông. Số lượng điểm ảnh càng nhiều thì độ phân giải càng lớn và hình ảnh càng rõ nét, chât lượng. dpi là giá trị để xác định độ phân giải của các thiết bị xử lý hình ảnh như màn hình, máy in, máy quyét, máy ảnh kỹ thuật số, webcame ...




13. Projector

Công dụng: đèn chiếu thiết bị hiển thị hình ảnh với màn hình rộng thay thế màn hình để phục vụ hội thảo, học tập...

Đặc trưng: độ phân giải.

Sử dụng: cắm dây dữ liệu vào cổng VGA thay thế dây dữ liệu của màn hình.


14. Memory card

Công dụng: thẻ nhớ là thiết bị lưu trữ di động, là bộ nhớ có khả năng tương thích với nhiều thiết bị khác nhau như máy ảnh kỹ thuật số, máy điện thoại di động...

Đặc trưng: Dung lượng MB, GB.

Sử dụng: đối với máy tính không có khe cắm thẻ nhớ nên bạn phải sử dụng một đầu đọc thẻ nhớ gắn vào cổng USB như hình bên.


15. Speaker.

Công dụng: loa để phát âm.
Đặc trưng: công suất W

Sử dụng: cắm dây audio của loa với đầu có ký hiệu Line Out (màu xanh nhạt) trên card âm thanh.


16. Microheadphone.

Công dụng: Microheadphone có 2 chức năng xuất và nhập dữ liệu audio.

Sử dụng: Mỗi Microheadphone có 2 đầu dây, cắm dây có ký hiệu tai nghe vào chân cắm Line Out (màu xanh nhạt), dây có ký hiệu Micro vào chân cắm Mic (màu đỏ, hoặc hồng trên card âm thanh.


17. Joystick

Công dụng: Dùng để chơi game trên máy tính với nhiều chức năng đặc biệt thay thế chuột, bàn phím.

Sử dụng: Cắm dây cáp của Joystick


18. Webcame

Công dụng: thiết bị thu hình vào máy tính, Webcame sử dụng trong việc giải trí, bảo vệ an ninh, hội thảo từ xa, khám bệnh từ xa ...

Đặc trưng: độ phân giải dpi

Sử dụng: nối dây dữ liệu vào cổng USB phía sau mainboard. Cài các phần mềm hỗ trợ đi kèm.



19. UPS

Bộ lưu điện - UPS viết tắt từ Uninterruptible Power Supply

Công dụng: Ổn áp dòng điện và cung cấp điện cho máy trong một khoảng thời gian ngắn (5 - 10 phút) trong trường hợp có sự cố mất điện để giúp người sử dụng lưu tài liệu, tắt máy an toàn.


Đặc trưng: Công suất KW

Sử dụng: Cắm dây nguồn của UPS vào nguồn điện, cắm nguồn của case, màn hình, máy in vào UPS.

20. USB Bluetooth.

Công dụng: là thiết bị để giao tiếp với máy tính với các thiết bị khác như điện thoại di động dùng công nghệ truyền dữ liệu không dây bluetooth.

Sử dụng: Cắm USB Bluetooth vào cổng USB.

Te thien dai pha
02-05-2013, 01:12
Bài 3

LẮP RÁP VÀ BẢO TRÌ MÁY TÍNH

-------------

I. Chuẩn bị:

- Chuẩn bị đầy đủ các linh kiện đầy đủ.

- Chuẩn bị các dụng cụ như vòng tay tĩnh điện, trục vít, kiềm.




II. Các bước lắp ráp:

Nguyên lý: Lắp những thiết bị đơn giản trước, lắp từ trong ra ngoài.

1. Gắn CPU vào mainboard:

- Dỡ cần gạt của socket trong mainboard lên cao.

- Nhìn vào phía chân cắm của CPU để xác định được vị trí lõm trùng với socket.

- Đặt CPU vào giá đỡ của socket, khi CPU lọt hẵn và áp sát với socket thì đẩy cần gạt xuống.



2. Gắn quạt giải nhiệt cho CPU:

- Đưa quạt vào vị trí giá đỡ quạt bao quanh socket trên main. Nhấn đều tay để quạt lọt xuống giá đỡ

- Gạt 2 cần gạt phía trên quạt để cố định quạt với giá đỡ.

- Cắm dây nguồn cho quạt vào chân cắm 3 có ký hiệu FAN trên main.








3. Gắn RAM vào main:

- Phải xác định khe RAM trên main là dùng loại RAM nào và phải đảm bảo tính tương thích, nếu không bạn sẽ làm gãy RAM.

- Mở hai cần gạt khe RAM ra 2 phía, đưa thanh RAM vào khe, nhấn đều tay đến khi 2 cần gạt tự mấp vào và giữ lấy thanh RAM.

- Lưu ý: Khi muốn mở ra thì lấy tay đẩy 2 cần gạt ra 2 phía, RAM sẽ bật lên.




Nhấn đều tay 2 cần gạt 2 bên để đẩy RAM ra




4. Chuẩn bị lắp main vào thùng máy.

- Đối với mỗi mainboard có số cổng và vị trí các cổng phía sau khác nhau nên bạn phải gỡ nắp phía sau của thùng máy tại vị trí mà mainboard đưa các cổng phía sau ra ngoài để thay thế bằng miếng sắc có khoắt các vị trí phù hợp với mainboard.

- Gắn các vít là điểm tựa để gắn mainboard vào thùng máy, những chân vít này bằng nhựa và đi kèm với hộp chứa mainboard.





5. Gắn mainboard và thùng máy.

- Đưa nhẹ nhàng main vào bên trong thùng máy.

- Đặt đúng vị trí và vặt vít để cố định mainboard với thùng máy.

- Cắm dây nguồn lớn nhất từ bộ nguồn vào mainboard, đối với một số main cần phải cắm đầu dây nguồn 4 dây vuông vào main để cấp cho CPU.




6. Lắp ổ cứng:

- Chọn một vị trí để đặt ổ cứng thích hợp nhất trên các giá có sẵn của case, vặt vít 2 bên để cố định ổ cứng với Case.

- Nối dây dữ liệu của ổ cứng với đầu cắm IDE1 trên mainboard.

- Nối dây nguồn đầu dẹp 4 dây (đầu lớn) vào ổ cứng với mặt có gân xuống dưới.

Lưu ý!: Trong trường hợp nối 2 ổ cứng trên cùng một dây dữ liệu, bạn cần phải xác lập ổ chính, ổ phụ bằng Jumper.

Trên mặt ổ đĩa có quy định cách cắm Jumper để xác lập ổ chính, ổ phụ: Master - ổ chính, Slave ổ phụ.

Nếu ổ đĩa không có quy định thì vị trí jump gần dây dữ liệu là để xác lập ổ cứng này là ổ chính, cắm jumper và vị trí thứ 2 tính từ dây dữ liệu là để xác lập ổ này là ổ phụ.




7. Lắp đặt ổ đĩa mềm.

Đưa ổ mềm vào đúng vị trí của nó trên thùng máy.

Thử nút nhấn đẩy đĩa mềm ở mặt trước của thùng máy có đẩy được đĩa không.

Vặn vít cố định ổ mềm với Case.

Nối dây dữ liệu của mềm: đầu bị đánh tréo gắn vào ổ, đầu không tréo gắn vào đầu cắm FDD trên mainboard.

Nối dây nguồn đầu dẹp 4 dây (đầu nhỏ) vào ổ.







8. Lắp ổ CD-ROM

Mở nắp nhựa ở phía trên của mặt trước Case.

Đẩy nhẹ ổ CD từ ngoài vào, vặn ít 2 bên để cố định ổ với Case.

Nối dây cáp dữ liệu với IDE2 trên main. Có thể dùng chung dây với ổ cứng nhưng phải thiết lập ổ cứng là Master, ổ CD là Slave bằng jumper trên cả 2 ổ này.

Trong trừơng hợp dùng 2 ổ CD, cũng phải xác lập jump trên cả 2 ổ để giúp HĐH nhận dạng ổ chính, ổ phụ.

9. Gắn các card mở rộng.

Hiện nay hầu hết các loại card mở rộng đều gắn vào khe PCI trên main.

Trước tiên, bạn cần xác định vị trí để gắn card, sau đó dùng kiềm bẻ thanh sắt tại vị trí mà card sẽ đưa các đầu cắm của mình ra bên ngoài thùng máy.

Đặt card đúng vị trí, nhấn mạnh đều tay, và vặn vít cố định card với mainboard.

Lưu ý! Cách này cũng thực hiện cho card màn hình gắn khe AGP.







10. Gắn dây công tấc của Case.

Xác định đúng ký hiệu, đúng vị trí để gắn các dây công tấc nguồn, công tấc khởi động lại, đèn báo nguồn, đèn báo ổ cứng.

Nhìn kỹ những ký hiện trên hàng chân cắm dây nguồn, cắm từng dây một và phải chắc chắn bạn cắm đúng ký hiệu. Nếu không máy sẽ không khởi động được và đèn tín hiệu phía trước không báo đúng.




Các ký hiệu trên main:

MSG, hoặc PW LED, hoặc POWER LED nối với dây POWER LED - dây tín hiệu của đèn nguồn màu xanh của Case.

HD, hoặc HDD LED nối với dây HDD LED - dây tín hiệu của đèn đỏ báo ổ cứng đang truy xuất dữ liệu.

PW, hoặc PW SW, hoặc POWER SW, hoặc POWER ON nối với dây POWER SW - dây công tấc nguồn trên Case.

RES, hoặc RES SW, hoặc RESET SW nối với dây RESET - dây công tấc khởi động lại trên Case.

SPEAKER - nối với dây SPEAKER - dây tín hiệu của loa trên thùng máy.







11. Nối dây cho cổng USB của thùng máy.

Đối với một số thùng máy có cổng USB ở mặt trước tạo sự tiện lợi cho ngừơi sử dụng. Để cổng USB này hoạt động bạn phải gắn dây nối từ thùng máy với mainboard thông qua đầu cắm bên trong mainboard có ký hiệu USB.

12. Kiểm tra lần cuối

Kiểm tra lần cuối các thiết bị đã gắn vào thùng máy đã gắn đúng vị trí, đủ dây dữ liệu và nguồn chưa.

Buộc để cố định những dây cáp cho không gian bên trong thùng máy thoáng mát tạo điều kiện cho quạt CPU giải nhiệt tốt giúp máy hoạt động hiệu quả hơn.

Tránh trường hợp các dây nguồn, cáp dữ liệu va vào quạt làm hỏng quạt trong quá trình hoạt động và có thể gây cháy CPU do không giải nhiệt được.

Đóng nắp 2 bên lưng thùng máy và vặn vít cố định.

III. Đấu nối các thiết bị ngoại vi

Đây là bước kết nối các dây cáp của các thiết bị bên ngoài với các cổng phía sau mainboard.

- Cắm dây nguồn vào bộ nguồn

- Cắm dây dữ liệu của màn hình vào card màn hình (VGA Card) - cổng màu xanh.

- Cắm bàn phím vào cổng PS/2 màu xanh đậm hoặc USB tùy loại bàn phím.

- Cắm chuột vào cổng PS/2 màu xanh đậm hoặc USB tùy loại chuột.

IV. Khởi động và kiểm tra:

Nhấn nút Power để khởi động và kiểm tra

Nếu khi khởi động máy phát 1 tiếng bip chứng tỏ phần cứng bạn lắp vào đã hoạt động được.

Nếu có nhiều tiếng bíp liên tục thì kiểm tra tất cả các thiết bị đã gắn vào đúng vị trí, đủ chưa.

V. Bảo trì phần cứng:

Để đảm bảo máy của bạn luôn hoạt động tốt thì bạn cần phải duy trì thao tác bảo trì, bảo dưỡng định kỳ.

- Tháo gỡ các thiết bị theo trình tự ngược lại với trình tự lắp ráp ở trên.

- Lau chùi các thiết bị bằng bàn chải, cọ, khăn ... để đảm bảo các thiết bị không bị bụi bám nhiều làm giảm khả năng giải nhiệt gây cháy thiết bị.

- Chải sạch các khe cắm RAM, PCI, AGP ... để tăng khả năng tiếp xúc với các thiết bị.

Te thien dai pha
02-05-2013, 01:13
III/ Các linh kiện máy tính:

Trước khi lựa chọn các linh kiện bạn nên suy xét kĩ xem mục đích chính khi sử dụng của bạn là gì, và bạn có ý định nâng cấp trong tương lai hay không? từ đó sẽ quyết định các linh kiện cho phù hợp. Sau đây sẽ tôi sẽ nói chi tiết về các linh kiện cần thiết để xây dựng một bộ máy:


1/ CPU - Central Processing Unit (Đơn Vị Xử Lý Trung Tâm)

CPU của bạn có thể là loại Intel, AMD hay bất cứ một nhãn hiệu hay loại CPU nào, nhưng tất cả chúng đều thực hiện gần như cùng một thứ và với cách thức gần như nhau. CPU có thể coi là bộ não của máy tính, tất cả các thông tin, các luồng dữ liệu kèm theo chuỗi lệnh xử lí đều phải đi qua nó trước khi trả về kết quả.

Loại CPU cùng kiến trúc Bus quyết định hoàn toàn một bo mạch chủ. Các CPU khác nhau cần được cắm trên các bo mạch chủ khác nhau. Chính vì vậy, bạn cần quan tâm đến việc nên chọn CPU nào trước khi tính đến chuyện chọn bo mạch chủ loại nào. Thị trường hiện có rất nhiều chủng loại CPU được sản xuất bởi nhiều nhà SX khác nhau. Nhưng có hai nhà SX CPU lớn nhất mà chúng ta đã biết là Intel và AMD. Tương ứng với các loại CPU từ hai nhà SX này sẽ có các bo mạch chủ dành riêng cho CPU AMD hoặc bo mạch chủ dành riêng cho Intel. Tùy vào nhu cầu và mục đích sử dụng, chúng ta cần chọn cho mình một CPU phù hợp. Từ đó, mới chọn một bo mạch chủ không quá thừa tính năng, nhưng vẫn đảm bảo cho việc nâng cấp trong tương lai gần.

Celeron D, Pentium 4, Pentium D, Core 2 Duo (hay Athlon): tức là tên của loại vi xử lý (VXL). Đây là loại vi xử lý của hãng Intel (hay AMD). Ví dụ với Pentium D 925 thì con số 925 phía sau con số thể hiện chất lượng và vị thế của con VXL trong toàn bộ các sản phẩm thuộc cùng dòng. Con số này là một quy ước của hãng Intel. Số càng cao chứng tỏ VXL càng tốt.

X.Y GHZ(Ví dụ 3.2 GHZ):chỉ tốc độ xung đồng hồ của vi xử lý. Con số này là một trong những thước đo sức mạnh của vi xử lý, tuy vậy nó không phải là tất cả. Đôi lúc chỉ là một con số nhằm so sánh tương đối sức mạnh của vi xử lí. Tôi thấy có rất nhiều người chỉ dùng chỉ số xung nhịp này để đánh giá hiệu năng của CPU tuy nhiên điều đó hoàn toàn không đúng, bạn sẽ thấy sau đây tôi sẽ trình bày rất nhiều thứ liên quan đến CPU, tất cả chúng đều không vô nghĩa, vì vậy cần kết hợp tất cả để đánh giá hiệu năng của CPU.

Tốc độ máy tính được tính bằng số lệnh thực hiện được trong 1s. Và tốc độ này thường được đánh giá gián tiếp qua tần số của xung nhịp Clock cung cấp cho bộ xử lý. Trong máy tính có một thiết bị đều đặn phát ra các xung nhịp bằng nhau gọi là clock. Thiết bị này rất quan trọng và nó có tác dụng là bộ đồng tốc độ để đồng bộ hóa các hoạt động trong máy tính. Ví dụ như sau khi có lệnh thực hiện một công việc nào đó. Sau 2 xung nhịp thì ổ cứng sẽ copy dữ liệu vào trong RAM. Sau 5 xung nhịp thì RAM bắt đầu copy dữ liệu vào bộ nhớ đệm. Sau 7 xung nhịp thì CPU bắt đầu tìm dữ liệu trong bộ nhớ đệm và xử lý. Một clock có tần số 3Ghz có thể phát ra ba tỉ nhịp trong một giây. Mỗi nhịp kéo dài 2 ns. Và sau mỗi nhịp đấy thì CPU lại thực hiện được một "thao tác". Như vậy thì CPU có xung nhịp cao hơn thì chỉ có nghĩa là thực hiện nhiều thao tác hơn. Nhưng trong mỗi thao tác đấy, có CPU thực hiện được 5 "lệnh" một lúc (Core 2 Duo), có CPU chỉ thực hiện được 3 "lệnh". Vì thế Core 2 Duo có tuy có tốc độ xung nhịp không cao lắm nhưng sức mạnh thì vượt trội so với Pen 4. Và còn một vấn đề nữa đó chính là hiệu quả của thao tác đó. Ví dụ như do các thuật toán không chặt chẽ dẫn đến CPU đoán nhầm và copy khối dữ liệu không cần thiết vào trong bộ nhớ đệm, còn khối dữ liệu cần dùng thì lại không copy. Vì thế khi CPU tìm trong bộ nhớ đệm không thấy có khối dữ liệu đó lại phải lóc cóc tìm trong RAM, tìm xong lại phải copy vào bộ nhớ đệm rồi mới xử lý tiếp. Như vậy có nghĩa là CPU đã thực hiện rất nhiều thao tác thừa so với CPU đoán đúng được ngay khối dữ liệu chuẩn bị được xử lý. Core 2 Duo có các thuật toán cao cấp và các công nghệ tiên tiến giúp cho hiệu quả của CPU rất cao. Và chính vì thế mà hiệu suất của Core 2 Duo vượt trội so với Pentium.
Có một thông số đánh giá sưc mạnh của bộ xử lý hiệu quả hơn là MIPS (Million Instruction Per Second- triệu lệnh trên một giây) dùng để chỉ số lệnh thực hiện trong một giây. Một bộ xử lý 16 MIPS có thể xử lý được 16 triệu lệnh trong một giây. Máy vi tính chúng ta thường không sử dụng đơn vị này mà thường các máy lớn hơn như máy sever mới xử dụng đơn vị này.

Cache 1MB, 2MB, 4MB,… chỉ bộ nhớ đệm của vi xử lý. Đây là vùng chứa thông tin trước khi đưa vào cho vi xử lý trung tâm (CPU) thao tác. Trong tiến trình xử lý, CPU không phải xử lý liên tục, mà xử lý theo từng chu kỳ. Nên nếu như chưa đến chu kỳ, dữ liệu được chuyển đi sẽ lưu trữ trong cache, và khi đến chu kỳ, toàn bộ dữ liệu từ cache sẽ đẩy vào CPU để xử lý. Thường thì tốc độ xử lý của CPU sẽ rất nhanh so với việc cung cấp thông tin cho nó xử lý, cho nên không gian bộ nhớ đệm (cache) càng lớn càng tốt vì CPU sẽ lấy dữ liệu trực tiếp từ vùng này. Một số vi xử lý còn làm bộ nhớ đệm nhiều cấp. Số 1MB mà bạn thấy đó chính là dung lượng bộ nhớ đệm cấp 2(L2), tất nhiên sẽ còn có bộ nhớ đệm cấp 1(L1), nó “nằm gần” CPU hơn và nó thường nhỏ hơn nhiều so với L2(thường chỉ tính bằng bytes). Như bạn thấy dung lượng của cache rất nhỏ, chỉ vài MB nhưng tốc độ của nó là cực kì nhanh, nhanh nhất trong số các thiết bị lưu trữ(Ram, HDD) vì vậy giá của nó cũng không rẻ tí nào.

Data Width: là chiều rộng của ALU(Arithmetic Logic Unit – Bộ xử lí số học và logic). Một ALU 8 bit có thể cộng/trừ/nhân/… 2 số 8 bit, trong khi một ALU 32 bit có thể tính toán các số 32 bit. Một ALU 8 bit sẽ phải thực hiện 4 chỉ lệnh để cộng hai số 32 bit, trong khi một ALU 32 bit có thể làm việc này chỉ với một chỉ lệnh duy nhất.

CPU 64-bit là các CPU có các ALU 64-bit, các thanh ghi 64-bit, các tuyến 64-bit và… nó có thể quản lý được không gian bộ nhớ hàng nghìn triệu Gigabyte(2^64bytes). Còn các CPU 32bit chỉ có thể quản lí được tới 4GB(2^32) bộ nhớ!

Nhờ tuyến địa chỉ 64-bit cùng các tuyến dữ liệu rộng và nhanh trên bo mạch chủ, các hệ thống 64-bit gia tăng tốc độ nhập/xuất cho các thiết bị như đĩa cứng hay bo mạch đồ họa. Nhờ vậy mà tốc độ của toàn bộ hệ thống được nâng cao rõ rệt.

Dual Core: Các chip Intel Pen D, hay Athlon X2 thường có thêm phần Dual Core trong thông số kĩ thuật của mình, điều này đơn giản chỉ là nói lên đây là vi xử lí 2 nhân. Công nghệ chế tạo của CPU này là nhét 2 nhân của CPU vào cùng 1 con CPU. Do đó, trong thực tế đây thật sự là 2 CPU vật lý. Dĩ nhiên, CPU này chạy sẽ nhanh hơn rất nhiều so với CPU đơn hay CPU hỗ trợ HT(Hyper Threading – Siêu phân luồng), và nó cũng tiết kiệm điện và giúp tản nhiệt tốt hơn so với một nhân khác có thông số gấp đôi. Tuy nhiên, cũng không có nghĩa gắn vào tốc độ nhân gấp đôi. Lúc đó, công việc sẽ được chia đều cho các CPU cùng thực hiện dĩ nhiên thời gian thực thi sẽ rất nhanh. Tuy nhiên, không phải chương trình nào cũng hộ trợ xử lý song song (Paralell processing) nên nếu gặp chương trình không hỗ trợ thì vẫn chỉ có 1 CPU xử lý. Hiệu quả của CPU 2 nhân chỉ thật sự khi nào bạn chạy nhiều chương trình 1 lúc, hoặc là chạy chương trình hỗ trợ xử lý song song. Tuy nhiên cũng cần lưu ý rằng một vài dòng chip không có thêm phần Dual Core này nhưng nó vẫn là loại vi xử lí đa nhân, như Core 2 Duo bản thân cái tên của nó đã nói lên nó là vi xử lí 2 nhân rồi, hay Core 2 Quad thì đây là một loại vi xử lí cao cấp hơn, nó có 4 nhân.

Bus 533, Bus 800…: chỉ tốc độ "lõi" của đường giao tiếp giữa vi xử lí và bo mạch chủ tính theo đơn vị MHz. Một vi xử lý được đánh giá nhanh hay chậm tuỳ thuộc khá lớn vào giá trị này. Vi xử lý chạy được bus 800MHz thì đương nhiên hơn hẳn so với vi xử lý chỉ chạy được bus 533Mhz. Hoặc để đơn giản bạn có thể hiểu nôm na đó là một con đường, và thông tin qua lại trên đó, các con số 533 hay 800 chính là độ rộng của con đường đó. J

Socket(SK) 478, 775 hay Socket 754, 939, AM2: chỉ loại đế cắm của CPU. Đây là đặc tính để xét sự tương hợp giữa vi xử lý và mainboard (Bo mạch chủ - BMC). Các con số đi sau như 478 hay 775 là số chân cắm của con chíp đó. Bo mạch chủ phải hỗ trợ loại socket này thì vi xử lý mới có thể hoạt động được.

Box hay Tray: Chỉ số cuối cùng của các CPU thường là Box hoặc Tray, bạn có thể thấy hai CPU có cùng seri nhưng chỉ khác nhau giữa Box và Tray thì giá của nó đã vênh nhau từ 4-8USD, điều này chính là do hàng Box là hàng nguyên hộp, nguyên tem và đầy đủ các phụ kiện đi kèm nếu có được kiểm tra kĩ trước khi đem bán ra thị trường, còn hàng Tray thì không, và một số cửa hàng bán CPU Tray không kèm theo quạt, và bạn sẽ phải bỏ thêm ít tiền để mua quạt, cá nhân tôi khuyên bạn nên mua hàng Box để đảm bảo tính an toàn và đồng bộ.

AMD-Intel: Các chip Intel thường có cache lớn hơn và có nhiều lựa chọn về mainboard hỗ trợ hơn, còn các chip AMD thì thường có cache nhỏ song bus lại lớn hơn nhiều so với Intel, chip AMD thường có ít lựa chọn về mainboard hỗ trợ hơn so với chip Intel.

Ví dụ: Pentium 925 – 3.0GHz – 4MB – 64Bit – Dual Core – bus 800 – SK 775 – Box

Chip Intel Pentium seri 925 - Xung đồng hồ: 3.0GHz – Cache: 4MB – Data width: 64Bit – Là vi xử lí 2 nhân – Bus có tốc độ 800MHz – Loại đế cắm: 775 chân cắm – Hàng Box

Te thien dai pha
02-05-2013, 01:15
2/Mainboard

Bo mạch chủ(MainBoard-MB) là bản mạch in chính trong thiết bị điện tử. Nó có chứa các socket (đế cắm) và slot (khe cắm) để cắm các linh kiện điện tử và bo mạch mở rộng khác. Trong hệ thống máy tính cá nhân, bo mạch chủ chứa bộ vi xử lý, chipset, các khe cắm PCI, khe cắm AGP, khe cắm bộ nhớ và các mạch điều khiển bàn phím, chuột, các ổ đĩa và máy in. Nó cũng có thể được tích hợp sẵn các mạch điều khiển gắn liền cho modem, âm thanh, đồ họa và mạng. Bo mạch chủ của các máy tính xách tay thường được tích hợp sẵn toàn bộ các mạch điều khiển thiết bị ngoại vi.

Bo mạch chủ là bộ phận rất quan trọng trong PC. Nếu bạn có một bo mạch chủ chất lượng tồi thì máy tính của bạn sẽ thường xuyên gặp trục trặc và thật "mệt mỏi" để tìm ra nguyên nhân và cách khắc phục lỗi. Do đó vì vậy tôi cố gắng đưa ra những hiểu biết cơ bản nhất để bạn có cơ sở chọn lựa được một bo mạch chủ chất lượng tốt phù hợp với túi tiền mà đem lại hiệu quả cao, đáp ứng được yêu cầu nâng cấp sau này.

945P-G: Các thông số đi sau hiệu mainboard này là tên mã của dòng sản phẩm đó, cái tên này không nói lên nhiều điều, tuy nhiên bạn có thể dùng nó để tìm kiếm thêm thông tin trên mạng về loại sản phẩm này. Chữ G đi sau thể hiện mainboard này có tích hợp card đồ họa.

Chipset

Tại sao khi lựa chọn bo mạch chủ lại phải chú ý tới chipset đầu tiên? Bởi vì chipset trong bo mạch chủ giữ chức năng rất quan trọng. Chipset đưa dữ liệu từ đĩa cứng qua bộ nhớ rồi tới CPU, và đảm bảo các thiết bị ngoại vi và các card mở rộng đều có thể thể "nói chuyện" được với CPU và các thiết bị khác. Các nhà sản xuất bo mạch chủ còn đưa thêm các tính năng khác vào chipset như điều khiển RAID, cổng FireWire vào mỗi sê-ri bo mạch khác.

Không những thế, chipset không chỉ giới hạn kiểu, tốc độ của CPU mà bo mạch có thể "tải" được, loại bộ nhớ mà bạn có thể lắp đặt mà còn thêm vào các chức năng khác như tích hợp đồ họa, âm thanh, cổng USB 2.0. Các bo mạch chủ được thiết kế cho cùng loại chipset thì nói chung đều có các tính năng, hiệu năng tương tự nhau. Chính vì vậy, Chipset là yếu tố quan trọng khi bạn mua bo mạch chủ.

Một điều nữa muốn nhắc bạn đó là sau khi chọn CPU, khi chọn Mainboard bạn hãy xem xét kĩ xem chipset của mainboard đó có hỗ trợ CPU mà bạn đã chọn hay không, về việc này bạn có thể hỏi người bán cho chắc ăn. J

(Core 2 Duo) hay (Dual core): Chỉ loại CPU hỗ trợ. Đương nhiên là những main này có tính tương thích ngược. Main hỗ trợ CPU đời cao thì sẽ hộ trợ những CPU đời thấp hơn nó có nghĩa là bạn có thể mua mainboard hỗ trợ Core 2 Duo để chạy chip Dual core, Pen4 hay Celeron cũng được, miễn là cùng số Socket.

Socket

Socket chính là số chân cắm của CPU trên mainboard, loại soket của CPU mà bạn muốn mua phải phù hợp với loại mà mainboard hỗ trợ. (Của INTEL có thể là 478 hay 775, của AMD có thể là 754, 939, hay AM2)

CPU

Bo mạch chủ của bạn hỗ trợ bộ xử lý nào? Hiện nay, Pentium Dcủa Intel và Athlon của AMD là hai xu hướng lựa chọn CPU khác nhau. Chuẩn khe cắm (socket) cho các bộ xử lý của AMD và Intel khác nhau nên bạn không thể cắm bộ xử lý của hãng này vào bo mạch chủ hỗ trợ bộ xử lý của hãng kia. AMD hiện nay sử dụng khe cắm 939 và 754, AM2 còn CPU của Intel sử dụng khe cắm 775 và 478. Không những thế các bộ xử lý của cùng hãng cũng sử dụng khe cắm khác nhau nên trong nhiều trường hợp bạn cũng không thể nâng cấp được. Một yếu tố nữa là khả năng hỗ trợ tốc độ CPU tối đa mà bo mạch chủ có thể đáp ứng. Bạn cần phải hỏi kĩ người bán hàng, loại bo mạch chủ này hỗ trợ tốc độ CPU như thế nào bởi đôi khi các nhà sản xuất bo mạch chủ thường ghi là hỗ trợ CPU tốc độ cao như thế này nhưng không bao giờ hỗ trợ được tốc độ đó. Ví dụ: Bo mạch chủ ghi rõ hỗ trợ tốc độ CPU tới 2.5 GHz, nhưng thực tế bo mạch chủ đó hỗ trợ tối đa chỉ 2.0 GHz.

Vì vậy khi chọn MB bạn còn phải cân nhắc xem mình định mua loại CPU nào để có thể chọn đúng bo mạch chủ tương ứng, nhưng yên tâm, việc chọn lựa cho đúng này các nhân viên cửa hàng sẽ làm giúp bạn, điều bạn cần quan tâm ở đây là chọn các thông sô cho phù hợp, và để biết rõ bạn đang mua thứ gì, và nó làm được gì!

RAM (Ramdom Access Memory)

Đa số các bo mạch chủ hiện nay đều hỗ trợ DDR RAM (Double Data Rate RAM), RDRAM (Rambus RAM) không được dùng phổ biến vì có giá cao. Ngoài ra, trên thị trường còn xuất hiện DDR 2 cho tốc độ cao gần như RDRAM nhưng lại có giá rẻ như DDR. DDR RAM có các tốc độ 200/266/333/400 còn DDR 2 hỗ trợ tốc độ 400/533/667. Ngoài ra, DDR còn hỗ trợ kênh đôi, cho phép truy xuất bộ nhớ nhanh hơn, hiệu quả cao hơn.

2xDual DDR2 533/667(Max 4GB Ram): trên bo mạch chủ này có 2 khe cắm Bộ nhớ (RAM), hỗ trợ tốc độ giao tiếp 533 hoặc 667Mhz. Dựa vào thông số này, bạn có thể lựa chọn loại bộ nhớ (RAM) với tốc độ thích hợp để nâng cao tính đồng bộ và hiệu suất của máy tính. Chữ Dual là viết tắc của Dual Chanel, tức là bo mạch chủ hổ trợ chế độ chạy 2 thanh RAM song song. Với công nghệ này, có thể nâng cao hiệu suất và tốc độ chuyển dữ liệu của RAM. Max 4GB Ram tức là tổng dung lượng Ram tối đa mà bo mạc chủ hỗ trợ, ở đây là 4GB tức bạn có thể lắp 1xRam4GB, hoặc 2xRam2GB. Tất nhiên bạn sẽ lắp 2xRam2GB để tận dụng công nghệ Dual. Và bạn cũng nên lưu ý tới số khe cắm Ram, trong trường hợp này là 2 khe cắm, các mainboard loại microATX thường có 2 khe cắm Ram, nếu có ý định nâng cấp ram trong tương lai bạn nên chọn main board có 4 khe cắm Ram.

Card đồ họa tích hợp

Lĩnh vực đồ họa luôn được các nhà sản xuất quan tâm. Các bo mạch chủ mới đều hỗ trợ card đồ họa qua khe PCI Express x16, hoặc đồ họa tích hợp. Các chip đồ họa tích hợp không đem lại hiệu quả đồ họa cao, chỉ thích hợp cho người dùng gia đình và văn phòng. Tuy nhiên, một số chip đồ họa tích hợp có chất lượng rất tốt của Nvidia, ATI hay Intel 915G/945G.

Về đồ họa, giao tiếp AGP đã nhường chỗ cho PCI Express có băng thông cao gấp đôi AGP 8x. Không những thế công nghệ card đồ họa kép SLI đã đem lại khả năng xử lý đồ họa "siêu mạnh". SLI cho phép bạn gắn 2 card đồ họa vào bo mạch chủ, SLI thường đem lại khả năng xử lý đồ họa cao hơn bình thường từ 70-80%. Tuy nhiên, đây là các công nghệ cao cấp, giá của cặp card đồ họa trung bình cũng tới vài trăm USD.

Tuy nhiên nếu công việc của bạn không cần sử dụng đến những ứng dụng đồ họa hạng nặng tôi khuyên bạn nên chọn main board có hỗ trợ card đồ họa tích hợp, vì sao ư, vì các card đồ họa tích hợp bây giờ đều cỡ khoảng 128Mb trở lên, hoàn toàn đáp ứng công việc thông thường và các ứng dụng đồ họa trung bình, và nếu muốn bạn có thể mua thêm card đồ họa để đáp ứng công việc nếu có phát sinh bất cứ lúc nào, trừ phi bạn dùng các phần mềm đồ họa cỡ nặng, thiết kế 3D chuyên nghiệp, hay chơi game hạng nặng thì mới cần dùng đến những card đồ họa riêng, hơn nữa giá các card đồ họa rời cũng không rẻ chút nào, ít nhất cũng khoảng 700.000 đến vài triệu, và còn một vài liên quan khác nữa chúng ta sẽ bàn kĩ hơn ở phần sau khi nói riêng về card đồ họa.

Âm thanh tích hợp

Bo mạch chủ tích hợp âm thanh có thể là lựa chọn tốt hơn. Các loại bo mạch chủ tích hợp chipset âm thanh sáu kênh(5.1) thường chỉ thích hợp cho trò chơi hoặc phát lại MP3. Tuy nhiên, một số bo mạch chủ cao cấp có thể hỗ trợ âm thanh 8 kênh (7.1), đồng thời còn hỗ trợ thêm âm thanh số (SPDIF) ngõ quang/đồng trục. Nếu bạn muốn có chất lượng âm thanh tuyệt hảo thì bạn có thể mua một card âm thanh chất lượng cao như Creative Sound Blaster Audigy 4 – 7.1 chẳng hạn. Lúc đó, bạn có thể tắt âm thanh tích hợp này bằng các jumper hoặc chỉ cần thiết lập trong BIOS. Tuy nhiên lưu ý một điều là nếu bạn chơi những hàng cao cấp như âm thanh 8 kênh thì nếu muốn có được hiệu quả như ý bạn phải sắm thêm cho mình một bộ loa 7.1 nữa, và giá của một bộ loa như thế cũng không rẻ chút nào, và nếu là card 8 kênh tích hợp thì nó sẽ đẩy giá mainboard của bạn lên một chút, tuy nhiên hầu hết các mainboard bây giờ đều hỗ trợ card âm thanh 6 kênh hoặc 8 kênh, vì vậy nếu bạn không có ý định mua một bộ loa 7.1 thì bạn không cần quan tâm lắm đến nó.

PCI Express 16X là tên của loại khe cắm card màn hình mà bo mạch chủ. Khe PCI Express là loại khe cắm mới nhất, hỗ trợ tốc độ giao tiếp dữ liệu nhanh nhất hiện nay giữa bo mạch chủ và Card màn hình. Con số 16X thể hiện một cách tương đối băng thông giao tiếp qua khe cắm, so với AGP 8X, 4X mà bạn có thể thấy trên một số bo mạch chủ cũ. Tuy băng thông giao tiếp trên lý thuyết là gấp X lần, thế nhưng tốc độ hoạt động thực tế không phải như vậy mà còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác như lượng RAM trên card, loại GPU (Vi xử lí trung tâm của card màn hình)

3PCI, 4SATA, 4USB 2.0: trên bo mạch chủ có 3 khe cắm PCI dành để lắp thêm các thiết bị giao tiếp với máy tính như card âm thanh, modem gắn trong v.v…. 4SATA là 4 khe cắm SATA, một loại chuẩn giao tiếp dành cho đĩa cứng. SATA thì nhanh hơn và ổn định hơn so với chuẩn IDE. Nếu bạn thấy bo mạch chủ có ghi dòng là ATA66, ATA100, ATA133 thì đó chính là dấu hiệu nhận biết bo mạch chủ có hổ trợ chuẩn đĩa cứng IDE. 4 cổng cắm USB 2.0 được hổ trợ trên bo mạch chủ. USB 2.0 thì nhanh hơn USB 1.1. USB 2.0 thì tương thích luôn với các thiết bị chỉ có USB 1.1. Hầu hết các bo mạch chủ bây giờ đều hỗ trợ USB 2.0 vì vậy các bảng báo giá thường không đưa thêm thông số USB vào.

Lưu trữ

Hầu hết các bo mạch chủ hiện nay đều hỗ trợ SATA có băng thông cao tới 150MB/giây. Không những thế, SATA có thể cắm nóng, cáp kết nối lại nhỏ gọn, cho phép tiết kiệm không gian trong hộp máy. Không dừng ở đó, chuẩn SATA 2 đã xuất hiện với băng thông 300MB/s, gấp đôi so với SATA.

Bo mạch chủ tích hợp IDE RAID có thể là lựa chọn hấp dẫn. Hệ thống RAID cho máy tính cá nhân sử dụng nhiều đĩa cứng cùng loại(ít nhất là 2 đĩa cứng) để làm tăng hiệu năng (bằng cách ghi dữ liệu vào cả hai ổ đĩa) hoặc cung cấp giải pháp dự phòng trong trường hợp ổ cứng hỏng (ánh xạ ổ đĩa). Tuy nhiên tôi nghĩ với nhu cầu của sinh viên chắc bạn cũng không cần dùng đến loại chuẩn này, nhưng nếu vì lí do nào đó bạn muốn tăng thêm hiệu năng hay độ bảo mật thì bạn cũng có thể mua mainboard hỗ trợ chuẩn này, và giá của nó cũng không đắt hơn nhiều.

Kết nối

Hầu hết các bo mạch chủ hiện nay đều hỗ trợ Ethernet, USB 2.0 và cổng FireWire(IEEE 1394). IEEE 1394a có tốc độ truy xuất dữ liệu là 400Mbps và IEEE 1394b có tốc độ truy xuất dữ liệu là 800Mbps. Các cổng giao tiếp cũ như PS/2, cổng song song cũng dần "biến mất". Không những thế, một số giao tiếp mở rộng khác như mạng không dây, mạng Gigabit, Bluetooth, bộ đọc thẻ nhớ... cũng có thể được hỗ trợ. Với những giao tiếp mở rộng này bạn nên cân nhắc để chọn mainboard cho phù hợp, xong xin lưu ý chẳng hạn với Bluetooth hay bộ đọc thẻ nhớ nếu bạn mua một mainboard không hỗ trợ chúng thì vẫn có thể mua thêm các phụ kiện rời nếu có nhu cầu.

Front Side Bus (FSB): Thông số này nói lên tốc độ trao đổi liên lạc điều khiển của chipset trên Mainboard với CPU, và nó là một trong hai nhân có chính tác động lên tốc độ của CPU, được tính bằng MHz. Thường thì bus tốc độ cao sẽ hỗ trợ luôn các vi xử lí chạy ở bus thấp hơn. Tuy nhiên bạn nên chọn mainboard có FSB phù hợp với Bus của CPU, nên bằng nhau là tốt nhất và đừng bao giờ chọn thấp hơn, ví dụ bạn có CPU bus800 song nếu bạn chọn mua một mainboard FSB 533MHz thì thật lãng phí, vì nó sẽ không phát huy được hết hiệu năng CPU của bạn. Tất nhiên bạn cũng không nên mua quá cao nếu không có nhu cầu dùng đến, chẳng hạn bạn dùng chip Pentium D và không có ý định sẽ nâng cấp lên Core 2 Duo thì cũng chẳng cần mua Mainboard có FSB 1066 làm gì.

Chọn nhà sản xuất nào? Hiện nay trên thị trường có rất nhiều loại main của các hãng khác nhau. Theo tham khảo trên một sô diễn đàn phần cứng thì loại main được ưa chuộng là ASUS và Gigabyte, đây đều là 2 nhà sản xuất mainboard của Đài Loan có uy tín trên thê giới. Main của Gigabyte chạy rất ổn định và bền với thời gian còn ASUS nhà sản xuất mainboard được ưa chuộng nhất Việt Nam năm 2005 thì được thiết kế thuận tiện cho việc ép xung, và cũng rất tốt. Tôi khuyên bạn nên chọn main của một trong 2 hãng này. Ngoài ra còn có main của DFI đây cũng là loại main chất lượng tốt. Main của Intel cá giá thường nhỉnh hơn một chút nhưng chất lượng thì cũng không hơn, main của ASROCK là mainboard chất lượng thấp, chạy không ổn định lắm, bạn không nên mua main của hãng này, ngoài ra còn một số hãng sx mainboard khác tuy nhiên số lượng chủng loại ít và chất lượng cũng tầm tầm.

Bây giờ chúng ta sẽ cùng xem xét một MB ví dụ sau:

GIGABYTE 945P-G – Socket 775; Intel 945P chipset (Core 2 Duo) – Upto P4 3.8GHZ; 2xDual DDR2 533/667/800 (Max 4GB Ram); VGA & Sound 8 channel & NIC Gigabit onboard; 1xPCI Express; 3xPCI; 4xSATA; 533/800 FSB

Nhà sản xuất: GIGABYTE | Model: 945P-G | Loại Chipset: Intel 945P hỗ trợ chip Core 2 Duo(chip 2 nhân) Hỗ trợ tốc độ xung nhịp đồng hồ của CPU lên tới 3.8GHZ | Hỗ trợ 2 RAM kênh đôi, tốc độ Bus có thể là 533/667/800MHZ và tổng dung lượng RAM tối đa là 4GB | Tích hợp card đồ họa, card âm thanh 8 kênh và card mạng | Có 1 khe cắm PCI Express, 3 khe cắm PCI, 4 khe cắm SATA | Tốc độ BUS hỗ trợ có thể là 533 hoặc 800MHZ

Te thien dai pha
02-05-2013, 01:15
3/ Ổ cứng - Hard Disk Drive(HDD)

Ổ cứng(HDD) được viết tắt từ chữ cái đầu của 3 từ Hard Disk Drive, là thiết bị để lưu trữ thông tin. Cấu tạo bởi 2 thành phần cơ bản là: những đĩa (platters) nằm bên trong được phủ bởi lớp từ tính và đầu đọc/ghi. Với những HDD hiện nay thì số lượng đĩa từ chứa bên trong từ 1 đến 5 cái và có tốc độ quay cố định từ 3600 đến 7200 vòng/phút (rpm: rounds per minute) tuỳ theo loại ổ cứng. Thậm chí, một số đĩa cứng SCSI hay các loại ổ mới có tốc độ lên đến 10.000 - 15.000 vòng/phút. Do tốc độ quay nhanh như thế nên HDD được bao phủ bởi một vỏ bọc bên ngòai rất kín với mục đích không cho không khí lọt vào bên trong và có thể chịu được sự va đập nhẹ.

Trên thị trường hiện nay có hai loại ổ cứng thông dụng đó là Parallel ATA(hay ATA) và Serial ATA (hay SATA), tuy nhiên các loại ổ ATA thường chỉ để cung cấp cho những máy có mainboard cũ, còn các mainboard mới đều hỗ trợ ổ cứng theo giao tiếp SATA, các ổ cứng SATA có tốc độ trao đổi thông tin lớn hơn nhiều so với các ổ ATA song giá của nó không đắt hơn các ổ cứng ATA là mấy, thường chỉ là 1-2USD. So với ATA thì SATA bộc lộ rất nhiều ưu thế, SATA có thể cắm nóng, cáp kết nối lại nhỏ gọn, cho phép tiết kiệm không gian trong hộp máy. Không dừng ở đó, chuẩn SATA II đã xuất hiện với băng thông 300MB/s(một số báo giá có thể ghi là 3Gigabit/s hay 3Gb/s), gấp đôi so với SATA(150MB/s).

Hầu hết các loại ổ cứng trên thị trường hiện nay đều có tốc độ 7200rpm(7200 vòng trên phút), với tốc độ này cho phép các ổ cứng có thể được truy xuất với lưu lượng thông tin lớn.

Cache(Bộ đệm): là nơi tạm lưu dữ liệu trong quá trình truy xuất, HDD có bộ nhớ đệm lớn sẽ có tốc độ truy xuất dữ liệu cao hơn.

Dung lượng ổ cứng là khả năng lưu trữ thông tin của ổ cứng đó, các ổ cứng hiện nay đều có khả năng lưu trữ rất lớn, thường là từ 80GB trở lên, cá nhân tôi khuyên bạn nên chọn ổ cứng có dung lượng lớn một chút, khoảng 160GB hoặc có thể hơn, vì giá của ổ cứng hiện nay cũng khá rẻ, bạn phải bỏ ra 49$ để mua một ổ cứng 80GB trong khi chỉ cần bỏ ra thêm khoảng 17$ nữa là bạn sẽ có một ổ cứng 160GB(thêm 80GB nữa), có thể bạn thấy 80GB đã là quá rộng rãi nhưng để đáp ứng thời gian làm việc lâu dài(khoảng vài năm) mà không lo thiếu dung lượng lưu trữ bạn nên bỏ thêm chút tiền để mua một ổ cứng dung lượng lớn hơn hẳn. Là một sinh viên CNTT tôi nghĩ số dữ liệu mà bạn cần lưu trữ sẽ không phải là nhỏ, hơn nữa lại là trong một thời gian dài. Ổ cứng tuy không đắt lắm nó cũng không quyết định nhiều đến hiệu năng của toàn bộ hệ thống, song những gì nó chứa đựng rất quan trọng, nó chứa tất cả kết quả công việc của bạn, và còn nhiều dữ liệu khác của bạn trong một thời gian dài, vì vậy bạn đừng ngần ngại khi bỏ thêm chút tiền đầu tư thêm cho thiết bị này. Và việc tính đến chuyện nâng cấp ổ cứng hoàn toàn không phải là một quyết định hợp lí về kinh tế, nếu bạn mua một chiếc ổ cứng 80GB, và bạn cảm thấy thiếu, bạn quyết định mua thêm một chiếc ổ cứng 80GB nữa và tổng số tiền bạn phải đầu tư là 49x2=98$ và bạn có 160GB dung lượng, trong khi nếu ngay từ đầu bạn quyết định mua một ổ cứng 160GB thì bạn cũng sẽ có 160GB dung lượng song sẽ chỉ phải trả 66$, và một quyết định đúng đắn sẽ mang lại hiệu quả kinh tế hơn nhiều, đôi khi bớt đi một ít tiền lại không phải là tiết kiệm!

Chọn nhà sản xuất nào? Trên thị trường hiện nay có nhiều hãng ổ cứng khác nhau, có những hãng đã tồn tại khá lâu trên thị trường Việt Nam và cũng đã xây dựng được uy tín trên thị trường như MaXtor hay Seagate, tôi khuyên bạn nên mua ổ cứng của một trong 2 hãng này, ổ cứng Segate là ổ cứng có thời gian bảo hành lâu nhất: 60 tháng và tất nhiên giá của nó cũng cao hơn một chút, các hãng còn lại đều bảo hành sản phẩm của mình với thời gian 36 tháng.

Sau đây là một ví dụ:

Seagate Barracuda 160GB Serial ATA II (300MB/s); 7200rpm; 8MB Cache

Hãng sản xuất: Seagate Barracuda | Dung lượng: 160GB | Kết nối: SATA II | Tốc độ vòng quay: 7200 vòng/phút | Bộ nhớ đệm: 8MB

Te thien dai pha
02-05-2013, 01:16
4/ Bộ nhớ trong - RAM(Random Acess Memory)

Bộ nhớ máy tính là tài nguyên làm việc chính của máy tính. Về tính chất vật lý thì bộ nhớ máy tính là một tập hợp các chip nhớ. Đây là nguồn tài nguyên quan trọng vì nó quyết định số lượng và kích cỡ chương trình có thể được chạy vào cùng một thời điểm cũng như lượng dữ liệu có thể được xử lý ngay tức thời.

Bộ nhớ máy tính trở lên quan trọng hơn khi bạn chạy nhiều chương trình cùng lúc hay chạy các ứng dụng nặng, vì thế mới có chuyện hệ điều hành hay một phần mềm cần tối thiểu một dung lượng bộ nhớ nào đó.

Thị trường hiện nay có hai loại bộ nhớ thông dụng là DDR và DDR2 (Chính xác hơn phải là DDR SDRAM - Double Data Rate Synchronous Dynamic RAM), DDR2 là công nghệ tiên tiến hơn DDR, DDR2 Ram có băng thông lớn hơn DDR Ram rất nhiều xong giá của nó lại rẻ hơn, tuy nhiên những người có mainboard chỉ hỗ trợ DDR nếu muốn nâng cấp Ram thì họ vẫn phải chọn DDR, còn khi mua máy mới tất nhiên là bạn chọn DDR2 rồi.

Dung lượng bao nhiêu là đủ? Tất nhiên là càng nhiều càng tốt nhưng nên hợp lí, nếu không bạn sẽ phải trả thêm tiền cho thứ mà bạn chẳng bao giờ sử dụng hết, Ram cũng là một phần quyết định hiệu năng của hệ thống, nếu bạn có nhiều Ram bạn sẽ có thể chơi được những games đời mới, dùng những phần mềm nặng và mở nhiều ứng dụng cùng lúc hơn nữa nếu bạn muốn cài Vista một hệ điều hành mới của Microsoft, thì ít nhất bạn phải có 512MB Ram, và để tận dụng hết khả năng đồ họa của nó thì bạn sẽ cần tới 1GB Ram. Cá nhân tôi nghĩ với 512MB Ram có thể đủ để bạn làm hầu hết các công việc thông thường, nhưng hãy cân nhắc kĩ xem công việc của bạn chủ yếu là gì để mua cho phù hợp, và tất nhiên bạn sẽ có thể nâng cấp trong tương lai bằng cách cắm thêm Ram nếu muốn.

Gần giống như CPU, đại lượng đặc trưng cho tốc độ xử lí của RAM là tần số hoạt động, xác định bởi số lệnh tối đa có thể thực hiện tại mỗi thời điểm. Dĩ nhiên, tần số hoạt động càng cao thì tốc độ truyền – nhận dữ liệu của RAM càng lớn. Tuy nhiên để đánh giá Ram cũng còn một con số khác đó là băng thông, nếu bạn để ý thì trên các báo giá 2 con số này luôn đi cùng nhau, ví dụ như Bus 667 (PC2-5300) điều này có nghĩa là thanh Ram đó có thể hoạt động với tốc độ 667MHz hay có băng thông 5300MB/s.

Dual Ram: Là công nghệ bộ nhớ kênh đôi, chúng ta thiết lập bộ nhớ kênh đôi nhằm tăng băng thông truyền dẫn dữ liệu giữa bộ nhớ đến các thành phần khác trong hệ thống. Ngoài ra, việc thiết lập bộ nhớ kênh đôi sẽ giúp hệ thống tránh được hiện tượng "thắt cổ chai" giữa bộ xử lý thế hệ mới và bộ nhớ hệ thống. Gắn RAM dual chanel nghĩa là gắn 2 thanh RAM giống hệt nhau (dung lượng, bus, nhà sản xuât....) vào đúng khe của các main đời mới hiện nay (từ dòng chipset 865 trở lên) thì nó sẽ tự động kích hoạt chế độ dualchanel(Xem thêm hướng dẫn đi kèm để biết cách cắm dual Ram). Khi đó máy tính của bạn sẽ chấp nhận nạp dữ liệu vào 2 RAM theo 2 luồng cùng một lúc. Một RAM để nạp các dữ liệu vào, 1 RAM để xuất các dữ liệu ra. Khi đó tốc độ của RAM có thể được nhân đôi. Gắn 2 thanh RAM bus 400 Mhz dualchanel thì bus hệ thống lúc này sẽ nhận là 800Mhz. Như vậy thì về lý thuyết 2 thanh RAM 512 MB bus 400 gắn dualchanel sẽ nhanh gấp đôi 1 thanh RAM 1GB bus 400. Nhưng bạn cũng lưu ý một điều rằng nếu trong trường bạn cắm dual, ví dụ như bạn cắm 2 thanh Ram bus 533 vào, khi đó băng thông sẽ là 1066 nhưng nếu bus của mainboard chỉ là 800 thì 2 thanh Ram đó sẽ vẫn chạy nhanh hơn 2 thanh Ram bus 400(lúc đó bus sẽ là 800MHz) nhưng cũng không hơn là mấy, vì vậy bạn cũng không nên tốn thêm tiền cho cái mà bạn không được hưởng, tốt nhất hãy chọn Ram sao cho bus của nó bằng bus của mainboard để có hiệu suất cao nhất.

Như vậy với dual channel nếu bạn mua một main có 4 khe cắm Ram, nếu bạn muốn có 1GB thì bạn nên mua 2 thanh 512 giống hệt nhau để tận dụng dual channel, song nếu mainboard của bạn chỉ có 2 khe cắm Ram thì nếu mua ngay 2 thanh Ram để cắm dual điều đó đồng nghĩa với việc bạn không thể cắm thêm Ram để nâng cấp nếu muốn, vì vậy nếu có ý định nâng cấp trong thời gian sắp tới nhưng hiện tại điều kiện kinh tế chưa đủ bạn có thể mua trước một thanh, sau một thời gian bạn có thể mua thêm một thanh y hệt như vậy để tiến hành nâng cấp, còn nếu không thì bạn hãy mua 2 thanh Ram giống nhau để sử dụng công nghệ dual.

Nếu bạn lắp hai thanh ram khác nhau vào hệ thống bạn sẽ chỉ được hưởng thêm dung lượng còn tốc độ sẽ theo tốc độ của thanh RAM thấp hơn, và tất nhiên sẽ không có được hiệu quả của công nghệ Dual. Nếu vì lí do nào đó bạn muốn lắp thêm RAM nhưng không thể lắp 2 thanh RAM giống y hệt nhau hãy đảm bảo chúng có cùng tốc độ.

Chọn nhà sản xuất nào? Nếu bạn tham khảo trên các báo giá sẽ thấy có nhiều loại ram của các hãng sản xuất khác nhau, tuy thông sô giống nhau nhưng giá thành có chênh lệch đôi chút, đó một phần là do chất lượng sản phẩm song cũng không thể phủ nhận một yêu tố không nhỏ góp phần vào sự chênh lệch giá đó là thành quả của maketting và quảng cáo. Những ram của Kingmax và Kingston có giá cao nhất, những ram có giá hữu nghị như Avro, Elixir, Blitz xong chất lượng cũng chấp nhận được.

Ví dụ: DDR2 512MB bus 667 (PC-5300) Kingston

Ram dung lượng 512MB | Tốc độ bus 667MHz, băng thông 5300MB/s | Hãng sản xuất: Kingston

Te thien dai pha
02-05-2013, 01:17
5/ Màn hình – Monitor

Có lẽ không cần nói bạn cũng biết thiết bị này dùng để làm gì, Monitor (màn hình) là thiết bị ngoại vi dùng hiển thị thông tin (văn bản, hình ảnh…) từ PC đến người sử dụng, nó giúp chúng ta có thể giao tiếp với máy tính. Mặc dù màn hình máy tính không quyết định sự nhanh chậm của máy nhưng nó là thiết bị quan trọng kết xuất mọi thông tin dạng hình ảnh để người sử dụng có thể giao tiếp, một màn hình chất lượng thấp có thể sẽ không thể hiện được tất cả các kết quả tốt mà máy tính đã có. Hơn nữa một màn hình tốt ngoài sự đảm bảo về kỹ thuật còn có ý nghĩa bảo vệ sức khoẻ cho người sử dụng, đặc biệt là cho đôi mắt. Hầu hết tất cả thời gian làm việc trên máy tính của bạn đều tiếp xúc với màn hình, vì vậy hãy cân nhắc lựa chọn cho mình một màn hình chất lượng để bảo vệ sức khỏe của bạn. Loại màn hình được bán tại các cửa hàng hiện nay là màn hình bóng hình(CRT) và màn hình tinh thể lỏng(LCD). Nhưng cũng có một điều lưu ý với bạn là khi bạn xem báo giá của các cửa hàng bán máy vi tính thấy họ thông báo giá về rất nhiều loại màn hình và nhiều hãng khác nhau, phải lên tới hơn 100 loại khác nhau, nhưng thực tế không hoàn toàn như vậy, số loại màn hình có tại các cửa hàng nhỏ hơn rất nhiều, theo tôi biết chỉ vào khoảng 15 loại khác nhau, điều này tôi đã nói ở phần đầu với hầu hết các sản phẩm, song có thể nói màn hình là một trong những sản phẩm có ít loại nhất so với số lượng công bố trên báo giá, có thể do giá thành cao, vì vậy bạn nên đến cửa hàng tham khảo xem họ có những loại nào, mẫu mã ra sao, nếu bạn ưng ý với mẫu mã nào hãy xem mã sản phẩm của nó và tra thêm trong báo giá và internet để biết thêm thông tin. Đặc biết đối với các màn hình LCD thì những thông số được ghi trên báo giá vẫn còn thiếu nhiều, và thiếu cả những thông số quan trọng, vì vậy bạn nên tra cứu thêm trên mạng để biết thêm các thông số khác.

Rất nhiều bạn còn đắn đo xem nên chọn màn LCD hay CRT, sau đây tôi sẽ trình bày về các thông số kĩ thuật của 2 loại màn hình này để bạn hiểu rõ và và quyết định chọn mua loại màn hình nào.

+ Viewable area: vùng hiển thị hình ảnh, văn bản trên màn hình mà người dùng có thể nhìn thấy được. Những chỉ số về độ rộng của màn hình mà bạn vẫn thấy như 15inch, 17inch chính là số đo đường chéo của màn hình, cũng chính là độ rộng vùng hiển thị, tuy cùng chỉ số nhưng màn độ rộng màn hình LCD thường to hơn LCD một chút, thường là khoảng 1/2inch, do màn hình CRT thường nhỏ hơn so với kích thước được thông báo một chút.

+ Resolution: độ phân giải của màn hình, tính bằng số lượng các điểm ảnh trên đường ngang (row) và đường dọc (column). Ví dụ màn hình hỗ trợ các độ phân giải 640x480, 1024x768, 1280x1024,… Các màn hình LCD thường chỉ hiển thị tối ưu ở một độ phân giải nhất định, tuy vậy với các bạn vẫn có thể tùy chỉnh ở các độ phân giải khác mà chất lượng vẫn không khác là bao.

+ Pixel: là điểm ảnh, điểm sáng hiển thị màu trên màn hình.

+ Colour Depth (độ sâu của màu): số lượng màu hiển thị trên 1 điểm ảnh. Ví dụ: 16,8 triệu màu, 65.000 màu,…

+ Refresh Rate: Tốc độ làm tươi hình ảnh hay gọi là tần số quét của màn hình, là số lần "vẽ lại" hình ảnh trong 1 giây từ trên xuống dưới cho tất cả các điểm ảnh. Chất phosphor giữ cho độ sáng điểm ảnh vừa đủ để mắt người không cảm nhận được sự thay đổi này. Thông số này rất quan trọng, nó càng cao thì mắt người dùng không bị mỏi. Mỗi loại màn hình có thể hỗ trợ các tần số quét khác nhau (50 Hz, 60 Hz, 72 Hz, 85 Hz, 90 Hz, 100 Hz… ).

+ Respect ratio: tỉ số giữa chiều cao và chiều rộng của màn hình giúp hình ảnh không bị kéo dãn khi được thể hiện ở những khung hình khác nhau, thông thường tỉ số này là 4:3.

+ Power Consumption: công suất tiêu thụ điện của màn hình

+ Dot pitch: là khoảng cách giữa tâm các điểm ảnh, khoảng cách càng nhỏ màn hình có độ phân giải càng cao, hình ảnh hiển thị càng sắc nét. Ví dụ: 0.31mm, 0.28mm, 0.27mm, 0.26mm, và 0.25mm bạn sẽ thấy các thông số này ở các màn hình CRT. Đây là một trong các yếu tố quan trọng để đánh giá chất lượng các màn hình CRT. Ở các màn hình LCD các bạn sẽ không thấy các thông số này ví nó gần như không có ý nghĩa với các màn hình LCD và theo một nghĩa nào đó thì nó không tồn tại với các màn hình LCD.

Ngoài các thông số trên màn hình LCD còn có các thông số quan trọng sau:

+ Tần số đáp ứng (response rate): Tần số đáp ứng của màn hình LCD được tính bằng tổng thời gian một điểm ảnh sáng lên và sau đó tắt đi. Thường thì thời gian bật (rising time) nhanh hơn thời gian tắt (falling time). Bật tắt ở đây không có nghĩa như từ on/off thông thường mà là thời gian để một màu hiện lên trên 1 điểm ảnh (pixel) và thời gian để màu đó hoàn toàn biến mất. Thơi gian này thường đượ tính bằng mili giây, bạn có thể thấy trên các thông số trong báo giá như 5ms, 8ms, 12ms, 16ms… con số này càng thấp thì càng tốt, hầu hết các màn hình LCD hiện nay đều có thời gian đáp ứng là 8ms, và một số loại cao cấp là 5ms, hay hơn nữa là 2ms, dù 8ms, 5ms, 2ms thì các con số này hoàn toàn chấp nhận được.
+ Độ tương phản (contrast): Tỉ lệ tương phản là sự khác biệt giữa màu sáng trắng mạnh nhất và màu tối nhất trên màn hình. Một màn hình LCD có độ tương phản cao sẽ cho màu sắc hình ảnh đẹp hơn. Các chi tiết sẽ xuất hiện rõ ràng hơn. Các loại màn hình LCD trên thị trường có độ tương phản rất lớn, từ 1200:1 tới 2000:1. Độ tương phản là yếu tố hàng đầu để đánh giá các màn hình LCD, con số càng cao thì hình ảnh càng sắc nét và rõ ràng.

+ Góc nhìn (viewing angles): Nếu đã từng nhìn qua màn hình LCD, bạn sẽ nhận thấy khi nhìn lệch đi một góc, màu sắc trên màn hình sẽ bị biến đổi, ở một số loại màn hình rẻ tiền, có thể bạn sẽ không còn nhìn thấy gì nữa. Tuy nhiên góc nhìn không phải là yếu tố quan trọng nhất để chọn màn hình LCD vì đa số người dùng máy tính đều ngồi trực diện màn hình, tuy đôi lúc có thể hơi lệch một chút nhưng việc đó không gây khó khăn gì đối với các loại LCD hiện đại.
Góc nhìn của LCD được xác định theo chiều dọc và chiều ngang, các màn hình LCD hiện nay đã khắc phục rất nhiều tình trạng này, hầu hết các màn hình đều có góc nhìn là 160 độ, thậm chí một số loại màn hình còn đưa ra con số 180 độ, tức là có thể nhìn từ mọi hướng.

+ Giao tiếp tương tự (D-Sub) và giao tiếp số (DVI): Tất cả các loại màn hình LCD đều được kết nối với máy tính thông qua một trong hai kiểu giao tiếp - tương tự qua ngõ VGA thông dụng, giao tiếp số qua cổng DVI hiện được hỗ trợ trên các card đồ họa cao cấp. Để sử dụng giao tiếp DVI, bạn phải có cổng DVI trên màn hình và trên máy tính qua card màn hình. Một cáp DVI sẽ đảm nhận việc nối hai cổng này lại với nhau. Một số loại màn LCD mặc dù có hỗ trợ giao tiếp DVI nhưng lại không bán kèm cáp. Bạn nên tính toán trước khi mua vì giá của nó không rẻ. Tuy nhiên với giao tiếp số DVI, bạn sẽ có chất lượng hình ảnh cao và nét hơn. Mặc dù sự khác biệt không lớn nhưng để ý thật kĩ, có thể bạn sẽ vẫn nhận ra. Sự khác biệt này do khi dùng giao tiếp tương tự, tín hiệu số từ card đồ họa phải chuyển qua dạng tương tự, đi qua dây cáp rồi lại phải chuyển về dạng số trước khi xuất ra màn hình.
Bạn cũng nên biết không phải tất các loại cáp DVI đều giống nhau. Nếu màn hình có dây cáp kèm theo, bạn có thể yên tâm sử dụng bởi nhà sản xuất đã đảm bảo về chất lượng cũng như khả năng làm việc của chúng phù hợp với màn hình. Nếu phải đi mua cáp thì bạn cũng nên biết cáp DVI bạn định mua phải đáp ứng được độ phân giải của màn hình. Lấy ví dụ bạn mua một màn hình LCD 17” có DVI, bạn phải chắc chắn cáp định mua không phải của màn hình 15”. Tuy trông có vẻ giống nhau nhưng loại cáp DVI rẻ tiền sẽ không đáp ứng được băng thông cần thiết cho độ phân giải cao. Kết quả là chất lượng hình ảnh tồi tệ hoặc hình ảnh bị rung nhẹ.
Các màn hình có hỗ trợ chuẩn DVI thường có giá cao hơn so với màn hình không có DVI từ 5-10$ nhưng lưu ý rằng bạn sẽ cần phải có card đồ họa để sử dụng chức năng giao tiếp số DVI, và giá của một card đồ họa cũng không rẻ chút nào, ít nhất cũng phải khoảng 45$ nếu không có ý định mua card đồ họa thì bạn cũng không nên mua màn hình có hỗ trợ DVI, vì như vậy sẽ là lãng phí.
+ Độ sáng (brightness): Tất cả các loại màn hình LCD đều sáng hơn rất nhiều so với CRT, có thể bạn sẽ cảm thấy khá nhức mắt khi mới làm việc với LCD. Tuy nhiên một khi đã quen, bạn sẽ cảm thấy LCD nhìn rất “sướng”. Một chi tiết mà bạn cần chú ý đó là độ sáng mặc định của các màn hình khi xuất xưởng đều giống nhau. Ví dụ, các màn hình Hitachi đều có độ sáng ở mức tối đa 100% và thiết lập này sẽ làm bạn cảm thấy nhức mắt rất nhanh. Hãy kiểm tra thiết lập và đảm bảo nó được đặt ở mức phù hợp, thường thì vào khoảng 50-60 là vừa (tùy vào độ sáng môi trường). Một số trò chơi có thể sẽ rất tối khi bạn sử dụng màn hình LCD, để khắc phục bạn phải thay đổi một thông số cũng liên quan đến độ sáng là gamma.
+ Điểm ảnh chết(Death pixel): Đây có lẽ là nỗi ám ảnh của tất cả người dùng LCD. Bạn nên biết việc sản xuất màn hình LCD không hề đơn giản, ngay cả với công nghệ hiện đại. Qua nhiều năm phát triển, các giai đoạn chế tạo LCD ngày càng trở nên hoàn thiện. Vào những ngày sơ khai của LCD, có đến 30-40% số tấm LCD bị quăng đi ngay sau khi sản xuất vì số điểm ảnh chết quá nhiều. Điều này đã khiến cho giá LCD thường rất cao. Vậy điểm ảnh chết là gì? Đó là khi điểm ảnh chỉ có khả năng hiển thị một màu nhất định (xanh, đỏ hoặc xanh da trời). Để nhận biết các điểm ảnh bị chết, đơn giản nhất là bạn hãy để nền ảnh tối hoặc đen hoàn toàn, những điểm ảnh chết sẽ nổi bật. Dĩ nhiên màn hình LCD mới mua giá hàng trăm USD tự nhiên lại xuất hiện những điểm ảnh chết sẽ làm cho bạn cảm thấy cực kì khó chịu. Thật may mắn là điều này được các nhà sản xuất đưa vào điều kiện bảo hành. Nếu không chấp nhận được điểm ảnh chết, bạn có thể gửi trả sản phẩm để đổi cái khác. Bạn hãy yêu cầu nơi bán kiểm tra màn hình thật kĩ trước khi mua về (nếu là mua trực tiếp). Bạn cũng cần phải chú ý là trong một số trường hợp, điểm ảnh chỉ “chết” trong khoảng 10 đến 15 phút và biến mất sau đó. Tuy nhiên với công nghệ hiện nay gần như rất đã loại bỏ được điểm ảnh chết.

+ Thiết bị tích hợp: Một số model màn hình LCD tích hợp kèm loa, hay USB Hub, thường thì đây không phải là những yếu tố quan trọng, nó không góp phần đánh giá màn hình LCD nhưng nó lại là yếu tố hậu thuẫn cho giá cả. Các loa tích hợp thường có công suất nhỏ và chất lượng không cao, tôi khuyên bạn không cần thiết phải chọn màn hình có thêm loa, hãy dành một chút tiền bớt ra việc đó để mua cho mình một chiếc loa chất lượng hơn.

CRT hay LCD?

Trên đây tôi đã trình bày các thông số của hai loại màn hình, nó sẽ góp phần giúp bạn dễ chọn lựa cho mình một màn hình cho phù hợp, sau đây tôi sẽ nói thêm về ưu nhược điểm của hai loại màn hình này kèm một vài lời khuyên, tuy nhiên quyết định cuối cùng vẫn là ở bạn.

Màn hình CRT hoạt động dựa trên sự phát sáng của lớp phosphor khi bị chùm tia điện tử đập vào. Trong khi đó, màn hình LCD sử dụng công nghệ ánh sáng nền (backlight) dùng các transistor để hiển thị hình ảnh.

Màn hình LCD có trọng lượng và kích thước nhỏ, tiêu thụ ít điện năng, có độ sáng cao, không gây hại mắt vì không có sự bức xạ điện từ, sử dụng giao tiếp số DVI cho chất lượng hình ảnh và độ nét cao… song giá thành cao.

Một số người dùng đồ họa chuyên nghiệp thường sử dụng CRT thay vì LCD vì CRT có khả năng hiển thị trung thực hơn, nhưng các màn hình LCD đời mới hoàn toàn có thể làm họ suy nghĩ lại.

Màn hình LCD có độ sáng và độ tương phản hơn hẳn các màn hình CRT, giúp hiển thị hình ảnh sắc nét và rõ ràng.

Với các ưu thế như trên của màn hình LCD thì nếu điều kiện cho phép bạn hãy trang bị cho mình một chiếc màn hình LCD, tuy có giá thành cao gấp đôi nhưng các màn hình LCD chỉ tiêu thụ điện năng bằng ½ màn hình CRT, với giá tiền điện tại các phòng trọ sinh viên đắt đỏ như hiện nay (1200-2000vnđ/KW) thì số tiền điện màn nó tiết kiệm cho bạn trong một thời gian sử dụng dài có thể bù đắp phần lớn số tiền chênh lệch giá giữa hai loại màn hình(khoảng 35-40W/h). Và điều quan trọng hơn nó giúp phần bảo vệ đôi mắt của bạn, và đi đôi với sự ảnh hưởng đến đôi mắt của bạn đó chính là một phần chi phí bạn phải dành cho việc “nâng cấp” kính mắt. J

Chọn nhà sản xuất nào? Nói chung thì giữa các hãng sản xuất màn hình cũng không có nhiều sự chệnh lệch lắm về giá cả và chất lượng, các màn hình LCD thường dùng chung tấm LCD của các hãng chuyên sản xuất tấm LCD (ví dụ Hitachi, NEC…) song chúng dùng đèn back light khác nhau nên có độ tương phản khác nhau. Các bạn có thể căn cứ và các thông số kĩ thuật trên để lựa chọn.

Chọn mua màn hình cũ:

Tuy nhiên với nhiều bạn sinh viên có điều kiện kinh tế hạn hẹp thì các bạn thường chọn cho mình những màn hình CRT cũ với giá chỉ gần bằng một nửa so với giá màn hình mới, và cũng có bạn dùng màn hình cũ để chờ mua màn hình LCD nhưng kinh tế hiện tại chưa đủ hoặc dành tiền để đầu tư thêm vào một số linh kiện khác.

Một chiếc monitor 17-inch cũ hiện được bán với giá dao động từ 700.000 - 800.000 đồng; trong khi cũng là một chiếc màn hình 17-inch nhưng mới, giá sẽ vào khoảng 1,6 triệu đồng - tức là đắt gấp 2 lần. Giá rẻ cũng đồng nghĩa với chất lượng không được đảm bảo tối đa. Nếu mua ở chợ trời (chẳng hạn như chợ trời phố Huế), thiết bị sẽ không được bảo hành, và điều kiện thử ngay tại chỗ cũng hạn chế. Chính vì vậy, việc mua được đồ tốt hay không còn phụ thuộc vào sự may rủi. Nếu may, bạn sẽ mua được một chiếc màn hình gần như còn mới với giá rất … trời ơi (cực thấp); còn nếu rủi thì rất có thể bạn sẽ nghĩ tới một phương án khác, chẳng hạn như đi mua một chiếc monitor mới khác vì chiếc secondhand vừa mua khi mang về không thể sử dụng được. Và tôi khuyên bạn không nên mua các sản phẩm không có bảo hành, vì như thế rất mạo hiểm, có thể mất tiền mua mà chẳng được gì!

Khác với chợ trời, các thiết bị máy tính secondhand do một số công ty máy tính Hà Nội cung cấp được bảo hành trong một thời gian hạn hữu, thường là nửa tháng hoặc 1 tháng. Giá của thiết bị cũ mỗi nơi bán một kiểu, nhưng nói chung chênh lệch cũng không quá lớn và có thể chấp nhận được.

Sau đây là một và lưu ý khi bạn đi chọn mua màn CRT cũ:

1. Nhãn hiệu chỉ là một phần nhỏ: Mọi người thường chọn mua màn hình có nhãn hiệu nổi tiếng như Compaq, Samsung, Sony, Dell... nhưng hãy cẩn thận đối với màn hình cũ vì chúng có thể bị đánh tráo vỏ hay dán nhãn lại, mà việc kéo lại nhãn hay thương hiệu này là điều không khó đối với các chuyên gia "mông má" hàng cũ. Vì vậy, thương hiệu chỉ là một phần nhỏ mà thôi.

2. Vỏ quá cũ hoặc quá mới: không chọn

Thật sự cũng phải cẩn thận với vỏ máy, vì đây chính là bước đầu kiểm tra độ thật thà của chủ hàng. Nếu bạn thấy chúng quá mới, hay quá cũ (màu đã ngả sang ố vàng) đều không ổn, bởi vì người bán có thể thay vỏ dễ dàng hoặc vỏ ố vàng là dấu hiệu vỏ máy quá cũ. Đối với một số màn hình đen, bạn cần phải chú ý đến độ bóng hoặc các hạt nhám đen trên vỏ màn hình. Nếu chỗ bóng nhiều hơn chỗ nhám thì cũng phải cẩn thận vì đó là màn hình quá cũ. Bạn cũng cần quan sát kỹ bề mặt màn hình xem chúng có bị trầy xước không, nếu có thì cũng không nên chọn. Bạn có thể dễ nhận thấy ở một vài cửa hãng bán màn hình cũ tất cả các màn hình đều cùng chung một hãng, thậm chí cùng một model, có thể dễ đoán ra tất cả chúng đều được “độ” lại một cái vỏ mới rồi, tốt hơn là không nên chọn.

3. Thời gian sản xuất

Nên chọn màn hình sản xuất từ năm 2002 trở lại đây, bằng cách nhìn vào các thông số ghi đằng sau máy. Chú ý để ý các dòng thông số này phải rõ ràng, sắc nét, không bị tẩy xoá hoặc lem nhem vì có thể tem này đã được thay bằng tem khác. Nhưng nếu tem bị mất luôn thì cũng đành chuyển sang bước tiếp theo luôn.

5. Khởi động màn hình

Bước tiếp theo của bạn là bật màn hình lên và xem xét. Điều cần chú ý ngay từ đầu đó là độ nhạy của màn hình. Thông thường, màn hình sẽ hiển thị sau 5-7 giây, các màn hình kém chất lượng thường hiển thị rất chậm do bóng đèn hình đã già. Các màn hình cũ thì không thể bung hết 100% màn hình là do hiện tượng màn hình dùng lâu bị co rút, do đó bạn hãy tinh chỉnh cẩn thận lại bằng các nút bấm của chính nó nhưng nếu không thể chỉnh được thì có lẽ bạn không nên chọn màn hình. Nhiều nhà bán hàng khắc phục tình trạng này bằng cách cài phần mềm điều khiển việc co dãn này nhưng thực tế phần cứng vẫn có lỗi. Vì vậy, chất lượng màn hình vẫn không tốt.

6. Quan sát và dùng một vài ứng dụng thông thường: bãn hãy quan sát kĩ màn hình và sử dụng một vài ứng dụng thông thường, nếu thấy chữ bị mờ hay nhòe, màn hình tối hay có bất thường đền mức khó chấp nhận nên đổi ngay, nếu không bạn sẽ phải sử dụng một màn hình chất lượng kém và nó ảnh hưởng nhiều đến đôi mắt của bạn.

Nói chung nếu tinh ý và may mắn bạn sẽ có thể có một màn hình chất lượng khá tốt, nhưng yếu tố may rủi khi đi mua hàng cũ bao giờ cũng có, vì vậy việc đi mua hãng cũ cũng khá mạo hiểm, nếu chọn mua hãng cũ bạn hãy xem xét thật cẩn thận.

Sau đây là một ví dụ:

LG LCD Monitor (1753S) – 8ms – 1280x1024

Hãng sản xuất: LG | Loại màn hình LCD | Mã sản phẩm(Dùng để tra cứu): 1753S | Thời gian đáp ứng: 8ms | Độ phân giải tối ưu: 1280x1024

Nếu dùng mã sản phẩm 1753S tra thêm trên mạng bạn có thể biết thêm: Độ tương phản: 2000:1 | Góc nhìn: 160 độ …

Te thien dai pha
02-05-2013, 01:17
6/ Nguồn – Power supply unit

Nếu ví chiếc máy vi tính như một cơ thể sống thì bộ nguồn (PSU – Power supply unit) chính là trái tim, là nơi bơm toàn bộ năng lượng cho chiếc PC. Nhưng đối với người dùng thông thường hiện nay, thành phần này dường như ít được quan tâm nhất. Với các hệ thống cũ như loại sử dụng bộ vi xử lý Pentium III, năng lượng cho máy tính có thể chưa thật sự là vấn đề cần quan tâm. Nhưng theo đà phát triển của công nghệ, việc cho ra đời các dòng CPU mới của Ịntel và AMD như các bộ vi xử lý 2 nhân, cùng các họ chipset Intel 915P, 925X, 955X… hay Nvidia nForce 4 (SLI) cộng hàng tá các thiết bị ngốn điện khác như các loại card đồ họa 3 chiều cao cấp sẽ khiến nhu cầu năng lượng càng ngày càng gia tăng. Nếu không cung cấp đủ công suất điện cho hệ thống, bạn sẽ phải thưởng thức vô số các lỗi… từ trên trời rơi xuống! Nhẹ thì máy chạy ì ạch, các game yêu thích bị đứng hình liên tục,… thậm chí hay bị khởi động lại máy vô cớ, không khởi động được và tệ hơn có thể là cháy nguồn, và nhiều thiết bị khác cũng bị ảnh hưởng theo. Một bộ nguồn đủ khỏe là yếu tố giúp máy bạn chạy ổn định hơn, tăng tuổi thọ phần cứng và còn giảm được những cú khởi động lại bất ngờ do sụt điện. Chính vì vậy, việc lựa chọn một bộ nguồn thích hợp với hệ thống là điều bạn cần xem xét và tính toán khi chọn mua máy tính.

Làm thế nào để nhận biết một bộ nguồn tốt? Các thông số kỹ thuật sau sẽ giúp bạn biết được sự khác biệt giữa các bộ nguồn hiện có trên thị trường hiện nay.

Công suất: hiện nay, một cấu hình trung bình cần phải có một bộ nguồn có công suất hiệu dụng tối thiểu là 300W. Xin được nói rõ ở đây, công suất hiệu dụng là công suất mà bộ nguồn có thể cung cấp liên tục và ổn định cho hệ thống. Còn công suất ghi trên vỏ được gọi là công suất định danh. Thường thì công suất này chỉ mang tính chất quảng cáo. Trước hết, bạn nên biết hệ thống của bạn có công suất tiêu thụ là bao nhiêu. Tuy nhiên với các dòng máy mới, nhất là các máy sử dụng CPU 2 nhân thì bạn nên mua một bộ nguồn có công suất 400W trở lên, đặc biệt là các máy sử dụng card đồ họa rời sẽ cần thêm một bộ nguồn lớn hơn để có thể chạy ổn định(450-480W)

Chọn nhà sản xuất nào: Như đã nói ở trên, công suất ghi trên các bộ nguồn thường là công suất ảo, nếu bạn mua bộ nguồn của những nhà sản xuất tốt thì con số này sẽ gần đúng với con số hiệu dụng hơn, và tất nhiên bộ nguồn đó sẽ tốt hơn. Một số hãng có bộ nguồn chất lượng khá tốt như Huntkey, Orient, Codegen mà giá cả cũng ở mức độ tương đối bạn có thể chọn mua bộ nguồn của những hãng này, còn có một số hãng cao cấp hơn như Gigabyte, Asus hay CoolerMaster thì giá cả cao hơn khá nhiều, song tiền nào của ấy thôi, tuy nhiên thường thì những dòng máy cao cấp có nhiều thiết bị ngốn điện mạnh như chíp Core 2 duo, card đồ họa lõi kép,… hay sử dụng những loại nguồn này, còn thông thường Huntkey, Orient hay Codegen cũng là những nhà cung cấp bộ nguồn khá tốt đáp ứng đủ nhu cầu điện năng cho những máy tầm trung và khá.

Còn một thông số mà một số bạn hay thắc mắc đó là số pin, pin chính là số chân cắm của nguồn vào mainboard, các bộ nguồn thường có 20 hoặc 24(20+4)pin, bạn không phải lo lắng về con số này khi chọn nguồn, vì cho dù là main của bạn là dùng loại nguồn 20 hay 24 chân thì các nguồn đều phù hợp cả, và nó cũng gần như không ảnh hưởng gì đến công suất cung cấp của nguồn.

Ví dụ: Huntkey Power Supply 450W – 24 pin

Hãng sản xuất: Huntkey | Công suất định danh: 450W | Số chân cắm: 24 chân (Chất lượng khá tốt)

Te thien dai pha
02-05-2013, 01:18
7/ Ổ đĩa quang – CD/DVD Drive và CD/DVD-RW Drive

CD-ROM (Compact Disc-Read Only Memory), là thiết bị lưu trữ dữ liệu bằng quang học, dựa trên những định dạng đã phát triển cho đĩa nhạc (audio CD). DVD-ROM cũng là thiết bị lưu trữ dữ liệu bằng quang học tương tự như CD-ROM nhưng nó có thể lưu trữ được một lượng dữ liệu lớn hơn nhiều lần so với đĩa CD-ROM
Cấu trúc khác nhau của hai loại đĩa trên đã làm thay đổi đáng kể dung lượng lưu trữ của đĩa. Cũng chính sự khác nhau này nên các ổ đĩa CD-ROM không đọc được đĩa DVD. Tuy nhiên ổ đĩa DVD-ROM ngoài khả năng đọc được các loại đĩa DVD nó cũng tương thích ngược khi đọc Audio CD, CD-ROM, video CD và CD tương tác khác. Những ổ đĩa kết hợp việc đọc DVD và ghi CD được gọi là các ổ đĩa Combo.
Khác với các loại đầu đọc đĩa nhạc (players) bình thường, ổ đĩa quang không thể trao đổi dữ liệu độc lập mà phải giao tiếp với máy tính và nhận lệnh điều khiển từ máy tính.

Chữ X được ghi trên ổ đĩa CD (VD: 52X) có ý nghĩa gì ?

Ký tự X được ghi trên ổ đĩa CD-ROM là một con số biểu diễn đơn vị đo. Ví dụ trên ổ đĩa có ghi 52X: ký tự X là đại diện cho đơn vị đo tốc độ dữ liệu đọc được của ổ đĩa. 1X có giá trị là 150 Kbps (Kilobyte per second) số byte dữ liệu đọc được trên 1 giây. Vậy với một ổ đĩa 52X thì tốc độ đọc dữ liệu tối đa của ổ đĩa đó là 52 x 150 Kbps

Tốc độ ghi trên ổ đĩa DVD-ROM là 16X có phải ổ đĩa DVD-ROM chậm hơn ổ đĩa CD-ROM ?

Ta không thể so sánh tốc độ đọc giữa DVD và CD-ROM được vì ở tốc độ 1X DVD có tốc độ truyền dữ liệu là 1.385 Mbps so với 150 Kbps của CD-ROM. Như thế 1X của DVD lớn hơn 9 lần so với 1X của CD, hay nói cách khác một ổ đĩa DVD 6X cũng có tốc độ đọc đĩa lớn hơn cả những ổ CD có tốc độ cao nhất(52X).

Các thông số ghi trên ổ đĩa CD-RW (VD: 52x32x52x) có nghĩa gì?

Cũng như các ổ đĩa CD-ROM, các con số được nhà sản suất ghi trên ổ đĩa CD-RW chính là tốc độ tối đa khi ổ đĩa hoạt động ở các chế độ đọc/ghi khác nhau. Số đầu tiên biểu diễn cho tốc độ đọc đĩa của ổ đĩa, số kế tiếp là tốc độ tối đa ghi được đối với các đĩa ghi lại (CD-RW) và số sau cũng chính là tốc độ cho phép ghi trên đĩa CD-R.

In tem nhãn nghĩa là gì: Với một vài chủng loại ổ ghi DVD bạn thấy có thêm phần in tem nhãn, những ổ ghi này sử dụng thêm một mắt laze nữa cho phép in tem nhãn lên mặt đĩa DVD bằng phần mềm chuyên dụng đi kèm, nhưng cũng cần lưu ý rằng để có thể sử dụng chức năng này bạn cần có một đĩa DVD chuyên dụng có khả năng cho phép in tem nhãn, loại đĩa này đắt hơn các đĩa DVD thông thường và hiện chưa phổ biến trên thị trường Việt Nam.

Nên mua loại ổ đĩa nào? Theo xu thế hiện nay thì đĩa CD đang dần nhường chỗ cho các đĩa DVD có dung lượng lớn hơn nhiều lần, vì vậy việc chuẩn bị cho mình một ổ đĩa có khả năng đọc DVD là điều cần thiết, để tránh việc phải nâng cấp từ CD lên DVD trong tương lai, vì như thế sẽ lãng phí hơn, phải tiêu tốn thêm tiền hơn trong khi các ổ đĩa DVD hoàn toàn có khả năng đọc các đĩa CD. Nếu có nhu cầu chia sẻ và lưu trữ tài nguyên thì bạn nên mua cho mình một ổ đĩa Combo vừa có khả năng đọc DVD vừa có khả năng ghi CD, còn nếu tài chính dư dả hơn một chút thì bạn có thể sắm một ổ DVD-RW, giá của chúng cũng không đắt lắm. Nhiều model mới của ổ ghi bây giờ cho phép trao đổi dữ liệu qua đường SATA cho phép trao đổi dữ liệu với tốc độ cao hơn.

Chọn nhà sản xuất nào? Theo đánh giá qua sử dụng của tôi và tham khảo đánh giá chung của nhiều người khác thì ASUS là hãng bạn nên chọn mua ổ đĩa quang, không chỉ là một trong những nhà cung cấp mainboard hàng đầu thế giới mà các sản phẩm ổ đĩa quang của ASUS cũng có chất lượng rất tốt, khả năng đọc đĩa rất tốt và không kén đĩa là ưu thế của ổ đĩa quang ASUS, một số hãng khác như LG hay Samsung ra những sản phẩm với quảng cáo không kén đĩa, chất lượng có cải thiện hơn nhưng vẫn không bằng ASUS. Sản phẩm của ASUS có giá cao hơn các sản phẩm cùng loại của các hãng LG, Samsung từ 1-3$ nhưng tôi nghĩ với những ưu thế hơn hẳn của ASUS thì bỏ thêm chút tiền để mua ổ đĩa quang ASUS là hoàn toàn xứng đáng đồng tiền bát gạo.

Ví dụ: ASUS DVD-RW 16-8-16 DVD / 48-32-40 CDRW (1814BLA) – In tem nhãn – Black

Hãng sản xuất: ASUS | Tốc độ Đọc DVD-Ghi đĩaDVD-RW-Ghi đĩa DVD tối đa: 16-8-16 | Tốc độ Đọc CD-Ghi đĩaCD-RW-Ghi đĩa CD tối đa: 48-32-40 | Mã sản phẩm: 1814BLA | Có thể in tem nhãn | Màu: Đen

Te thien dai pha
02-05-2013, 01:19
8/ Card đồ họa – VGA card

Bo mạch đồ họa là bo mạch cắm thêm vào máy tính có nhiệm vụ chuyển các hình ảnh được tạo bên trong máy tính thành các tín hiệu điện tử cần thiết mà màn hình máy tính có thể hiển thị lên. Nó quyết định số lượng màu, tần số quét và độ phân giải tối đa có thể được hiển thị. Và những thông số này cũng phải được màn hình máy tính của bạn hỗ trợ. Trên các bo mạch đồ họa có chứa bộ nhớ (VRAM), và chip đồ họa (GPU) riêng dành cho chúng. Ngày nay, bo mạch đồ họa có khả năng xuất tín hiệu qua hai cổng: cổng tín hiệu tương tự (D-Sub) và cổng tín hiệu số (DVI). Cổng tín hiệu số được sử dụng cho các màn hình tinh thể lỏng (LCD) mới hiện nay.

Tuy mạch đồ họa có thể được tích hợp sẵn trong bo mạch chủ của bạn, việc sử dụng một bo mạch lắp rời sẽ cần thiết đối với các ứng dụng cần đến khả năng xử lý đồ họa cao như những game cao cấp(Ví dụ: Doom3, F.E.A.R, Oblivion…) hay các trình xử lý đồ họa 3 chiều (3Ds MAX chẳng hạn).

Hãy chắc chắn bạn cần một card đồ họa: Hãy nhớ một điều, card đồ họa rời chỉ cần thiết cho những công việc cần sự xử lí đồ họa mạnh mẽ , nếu bạn là một gamer nghiền các game đời mới yêu cầu cấu hình đồ họa cao cấp hay thường xuyên phải sử dụng các ứng dụng xử lí ảnh 3D mạnh mẽ, còn nếu công việc của bạn chủ yếu là duyệt văn bản, lướt web, xem phim, hay chơi các game thông thường thì mua thêm card đồ họa rời là không cần thiết, card đồ họa tích hợp hoàn toàn đáp ứng các công việc đó, bạn có thể chơi hầu hết các game online hiện nay bằng card đồ họa tích hợp sẵn trên mainboard. Kể cả khi bạn có kinh tế dồi dào nếu không cần thiết cũng không nên mua thêm card đồ họa, nó sẽ chẳng làm tăng thêm hiệu năng hệ thống với những công việc chẳng bao giờ cần tới khả năng mạnh mẽ của card đồ họa rời đâu, khi đó bạn sẽ phải trả thêm tiền cho một thức bạn chẳng bao giờ thực sự cần đến nó.

Thời gian phù hợp cho việc mua sắm: Cuộc cạnh tranh dữ dội giữa ATI va Nvidia đã khiến cho công nghệ 3D phát triển nhanh chóng. Các nhà sản xuất GPU cho ra đời một dòng chíp mới sau từ 12-18 tháng, giúp cho các card đồ họa ngày càng mạnh mẽ và nhiều chức năng hơn. Họ cũng tối ưu lại thiết kế để có thể làm mới và cho thêm chức năng vào sản phẩm chỉ vài tháng sau khi thiết kế ban đầu được công bố.

Giá rất của card đồ họa rớt nhanh sau khi các card mới ra đời, đưa giá của các dòng card yếu hơn về một mức giá chấp nhận được. Bạn sẽ phí phạm rất nhiều tiền nếu mua một card đồ họa cao cấp ngay trước khi ATI hay Nvidia tung ra những GPU mới. Và nếu bạn cần một card đồ họa nhưng không phải là hiện tại mà là trong tương lai thì cũng đừng vội mua, hãy mua khi bạn cần đến nó và có thể bạn sẽ có một card đồ họa với công nghệ mới hơn và giá cả mềm dẻo hơn.

Video Ram(Ví dụ 256MB): Đây chính là dung lượng của card màn hình. Quan niệm rằng card màn hình có RAM càng cao thì càng tốt là một quan niệm sai lầm của rất nhiều người. Và ngay cả nhiều người bán máy cũng quan niệm như vậy. Bạn có thể thấy trên các báo giá thông số được ghi đầu tiên lại là VRAM, trong khi không thấy chỗ nào ghi GPU.(Có lẽ do thằng Microsoft nó báo thông số card màn hình chỉ có tên hãng, model và dung lượng làm nhiều người hiểu lầm!) Dung lượng card màn hình (VRAM) chỉ là một trong những yếu tố rất nhỏ tạo nên card màn hình. Có rất nhiều yếu tố quan trọng hơn nhiều như tốc độ xung nhân, xung RAM, ngõ giao tiếp, số ống lệnh..... Và VRAM lại là yếu tố ảnh hưởng ít nhất đến sức mạnh card màn hình. Khi tăng gấp đôi dung lượng RAM thì sức mạnh thường tăng không quá 15% và thường chỉ thể hiện được sự trội hơn đó khi tải nặng. Nếu bạn có một card đồ họa dung lượng lớn nhưng GPU lại thấp thì chẳng khác nào việc chạy đạp chạy trên đường cao tốc, rộng rãi nhưng dù làm cách nào bạn cũng không đi nhanh hơn ôtô được. Những card kém sức mạnh sẽ có nhiều các thanh ghi trống hơn, tuy nhiên chất lượng hình ảnh tồi sẽ thấy rõ khi bạn bước vào trò chơi cao cấp.

GPU: Bộ nhớ rất quan trọng nhưng trái tim thực sự của một card màn hình chính là GPU. Khi bạn quan sát trên một card đồ họa, hãy quan tâm đến loại GPU mà card sử dụng vì nó là nhân của các tác vụ xử lý 3D.

Hiện tại Nvidia và ATI đều đặt tên cho tất cả các card đồ họa của mình, từ card loại yếu cho tới những con quái vật "tân thời" với cùng cái tên Geforce hay ATI Radeon. Vì vậy cái tên Geforce hay ATI Radeon không quan trọng khi chọn mua card đồ họa.

Đương nhiên số hiệu của card càng cao thì card có chất lượng cao tương ứng nhưng bạn cũng nên chú ý đến phần đuôi của card như GT, GS, GTX, XT và XTX. Chúng sẽ quyết định khả năng đổ bóng hay xung nhịp đồng hồ của card.

Hiện nay chỉ có ATI và Nvidia là 2 nhà sản xuất duy nhất có thể sản xuất được chip đồ họa. Còn Gigabyte, Asus, XFX, MSI... chỉ là nhà sản xuất board. Có nghĩa là cả card đồ họa gồm có bộ nhớ RAM, cổng xuất, tản nhiệt... Còn chip thì sử dụng chip đồ họa do Nvidia và ATI cung cấp.

Pipeline: Trước đây, bạn có thể nhìn vào xung nhịp và số pipeline (hiểu nôm na là ống dẫn lệnh đồ họa, càng nhiều pipeline hình ảnh sẽ càng mượt mà) và điểm ảnh của một card đồ họa để đánh giá sức mạnh của nó. Nhưng nay, ánh sáng và các hiệu ứng khác có thể tạo ra thông qua phần mềm đổ bóng để có thể có được kết quả tương đương với sử dụng các pipeline.

Các card đồ họa cấp thấp thường có từ 4-8 pipeline, card tầm trung có 8-12 và các card cao cấp sẽ có từ 16 pipeline trở lên.

Xung nhịp nhanh hơn thì luôn tốt hơn, nhưng bạn nên cân bằng giữa GPU với số lượng pipeline để tránh xảy ra hiện tượng “thắt cổ chai” sẽ không khai thác hết khả năng GPU. Một card đồ họa có 8 pipeline chạy ở tốc độ 400MHz sẽ tốt hơn nhiều chỉ có 4 pipeline chạy ở tốc độ 500MHz.

SLI và CrossFire: Bạn sẽ phải nâng cấp lên PCI Express nếu muốn tận hưởng công nghệ đồ họa kép. Để làm một hệ thống đồ họa kép chạy và vận hành có hiệu quả là một công việc phức tạp và rắc rối. Bạn phải có đúng loại Mainboard, một cặp card đồ họa tương thích và một bộ nguồn đủ khỏe(Tối thiểu 550W). Nvidia và ATI cùng đưa ra hai định dạng đồ họa kép và mỗi định dạng cần có một loại Mainboard riêng.

Nvidia giới thiệu SLI (Scalable link Interface) vào năm 2004 và từ đó đến nay đã xây dựng cả một chương trình chứng nhận SLI cho các thành phần chủ đạo như Mainboard, PSU, RAM… Bạn có thể kết hợp 2 card màn hình đã được chứng nhận tương thích với SLI của hai nhà sản xuất nhưng bắt buộc chúng phải sử dụng cùng loại GPU.

ATI đưa ra công nghệ đồ họa kép CrossFire của họ vào năm 2005. Cũng như với SLI, CrossFire yêu cầu một Mainboard phù hợp, RAM chất lượng và một PSU “trâu bò”. Kết hợp hai card của ATI hơi khó khăn hơn vì bạn cần phải kết hợp một card “CrossFire Edition" với một card "CrossFire Ready" để khiến chúng làm việc cùng nhau.

Mặc dù hiện tại ATI và AMD đã hợp nhất. Khi xây dựng hệ thống, nếu muốn sử dụng công nghệ đồ họa kép ngon lành một nguyên tắc bất thành văn vẫn là nVIDIA SLI cho AMD AM2 và ATI Crossfire cho Intel Core 2 Duo.

Một bộ nguồn đủ khỏe là yếu tố cần thiết khi mua card đồ họa: Card đồ họa tầm trung và cao cấp thường yêu cầu PSU từ 400-500W trong khi để thiết lập đồ họa kép như sử dụng CrossFire Radeon X1900 XTX cần bộ nguồn tối thiểu là 550W.

Te thien dai pha
02-05-2013, 01:23
còn phần sửa chữa thì bạn cho mình cái email mình gửi nốt cho

dungthantai
02-05-2013, 10:55
Chủ thớt chắc to đầu rồi :byebye:

emoklaga113
02-05-2013, 11:05
hê hê em sẽ thông ass á nhầm thanks mấy thím :sexy: ! thanks mấy thím nhiều bữa nào rảnh đem neptune qua nhà em nhe :sexy: ! em sẽ nghiên cứu đống tài liệu này hj :beauty:

father_of_duckling
03-05-2013, 08:56
Thật ra để lắp ráp một máy để bàn bạn chỉ cần nắm đến những bộ phận sau:
- Mainboard
- CPU
- Ram
- Ổ Cứng
- Ổ quang
- Case+nguồn
- Chuột+bàn phím+màn hình

vojcoj_1102
03-05-2013, 10:36
hây da, e thấy kiến thức về máy tính nó bao la và mênh mông lắm, vấp đâu thì hỏi đấy thui chứ.............

emoklaga113
05-05-2013, 23:49
Thật ra để lắp ráp một máy để bàn bạn chỉ cần nắm đến những bộ phận sau:
- Mainboard
- CPU
- Ram
- Ổ Cứng
- Ổ quang
- Case+nguồn
- Chuột+bàn phím+màn hình

dạ nói thật máy tính em cũng có tìm hiểu trước ạ ! mấy cái này em biết chỉ là ... khi lắp máy đó thím :sosad: có mấy cộng dây điện em lắp vào main mà lắp nhầm hoài nên toàn đem ra tiệm kêu nó lắp giùm kết quả bị chém 80k buồn thúi ruột :sosad:

emoklaga113
05-05-2013, 23:52
hây da, e thấy kiến thức về máy tính nó bao la và mênh mông lắm, vấp đâu thì hỏi đấy thui chứ.............

dạ vậy mốt cho em hỏi vài câu ạ :sweat:! mấy hôm nay máy em nó cũng hỏng cái bios đấy thím :sosad: ! ngày tháng năm nó cứ y như cũ chỉnh hoài vẫn thế ! :surrender:! môi lần mở máy phải bấm f1 nữa thím ạ rồi đem ra tiệm thì nó bảo là cái đó hư rồi không sửa được ! mấy thím giởi it chỉ em với ạ ! và cộng cable mạng nhà em cắm vào sáng đèn báo là có mạng ( có khi nó không báo luôn) nhưng vẫn vào internet không được giúp em với ạ :adore:

Te thien dai pha
06-05-2013, 01:09
nếu đã cài đầy đủ driver mà ko vào mạng đc thì bạn mua 1 cái dvd backtrack hoặc ubuntu về chạy live trên đĩa, nếu ko vào đc nữa thì nên đem main đi khám tiếp

emoklaga113
06-05-2013, 13:07
main em hỏng cổng tùm lum bác ạ ! cổng usb trước hỏng luôn ổ dvd hỏng và mấy cái gì bác nó em không biết bác ạ ! nó có mắc không bác :sosad: ! mà em không hiểu sao mỗi lần thợ mạng xuống là nó làm sao mà hoạt động lại bt bác ạ !
em thử cái gì mà làm quay ngược thời gian ấy bác :sexy: ! mà win ghost làm bằng niềm tin :canny: ! và giờ win em nó hỏng luôn bác biết cài win bằng thẻ nhớ thì chỉ em với ạ ! :sosad: ! win xp nhe bác! ổ đĩa em hư rồi :sosad:

emoklaga113
09-05-2013, 01:09
BÀI 1

CẤU TRÚC MÁY TÍNH

-------------

I. Các khái niệm cơ bản:

1. Phần cứng (Hardware):

Phần cứng là các thiết bị vật lý của máy tính.

2. Phần mềm (Software):

Là các chương trình được thiết kế chứa các mã lệnh giúp phần cứng làm việc phục vụ nhu cầu người sử dụng. Phần mềm được lưu trữ trong các thiết bị lưu trữ.

Phần mềm chia làm 2 loại:

Phần mềm hệ thống (System Softwares): bao gồm các hệ điều hành điều khiển, quản lý phần cứng và phần mềm ứng dụng; các trình điều khiển trình thiết bị (driver).

Phần mềm ứng dụng (Application Softwares): là các phần mềm chạy trên nền các hệ điều hành để giúp người sử dụng thao tác với máy tính.

3. Các loại máy tính thông dụng:

3.1 Mainframe:

Hình bên là một siêu máy tính của hãng IBM với tốc độ nhanh nhất thế giới hiện nay.
Là những máy tính có cấu hình phần cứng lớn, tốc độ xử lý cao được dùng trong các công việc đòi hỏi tính toán lớn như làm máy chủ phục vụ mạng Internet, máy chủ để tính toán phục vụ dự báo thời tiết, vũ trụ.....


3.2 PC - Persional Computer:

Máy vi tính cá nhân, tên gọi khác máy tính để bàn (Desktop). Đây là loại máy tính thông dụng nhất hiện nay.

3.3 Laptop, DeskNote, Notebook

Là những máy tính xách tay, kê đùi.


3.4 PDA - Persional Digital Assistant

Thiết bị hỗ trợ kỹ thuật số cá nhân. Tên gọi khác: máy tính cầm tay, máy tính bỏ túi (Pocket PC).
Ngày nay có rất nhiều điện thoại di động có tính năng của một PDA.


II. Cấu trúc máy tính:

THIẾT BỊ NHẬP Û
THIẾT BỊ XỬ LÝ
Û THIẾT BỊ XUẤT

o

THIẾT BỊ LƯU TRỮ


1. Thiết bị nhập (Input Devices)

Là những thiết bị nhập dữ liệu vào máy tính như bàn phím, chuột, máy quét, máy scan...

2. Thiết bị xử lý (Processing Devies)

Là những thiết bị xử lý dữ liệu bao gồm bộ vi xử lý, bo mạch chủ.

3. Thiết bị lưu trữ (Stogare Devices)

Là những thiết bị lưu trữ dữ liệu bao gồm bộ nhớ trong và bộ nhớ ngoài.

Bộ nhớ trong bao gồm bộ nhớ chì đọc ROM, bộ nhớ truy xuất ngẫu nhiên RAM.

Bộ nhớ ngoài bao gồm ổ cứng, đĩa mềm, đĩa CD, DVD, ổ cứng USB, thẻ nhớ và các thiết bị lưu trữ khác.

4. Thiết bị xuất (Output Devices)

Là những thiết bị hiển thị và xuất dữ liệu từ máy tính. Thiết bị xuất bao gồm màn hình

cảm ơn thím đã cho em những thông tin hữu ích ạ :byebye:

NHCD
09-05-2013, 03:05
dạ vậy mốt cho em hỏi vài câu ạ :sweat:! mấy hôm nay máy em nó cũng hỏng cái bios đấy thím :sosad: ! ngày tháng năm nó cứ y như cũ chỉnh hoài vẫn thế ! :surrender:! môi lần mở máy phải bấm f1 nữa thím ạ rồi đem ra tiệm thì nó bảo là cái đó hư rồi không sửa được ! mấy thím giởi it chỉ em với ạ ! và cộng cable mạng nhà em cắm vào sáng đèn báo là có mạng ( có khi nó không báo luôn) nhưng vẫn vào internet không được giúp em với ạ :adore:

mua cục pin CMOS cr2032 3V cỡ 10k lắp vào nhé thím :sogood:

copxemhd
09-05-2013, 13:42
Rảnh nhỉ :gach::gach::gach:

cutonthienvinh
09-05-2013, 20:26
Trả lời hết câu hỏi của chủ thớt chắc viết được thành sách đấy.

tarzangirl
10-05-2013, 10:05
ký thuyết thì khó mà hỉu bạn nên mang máy đi ra tiệm sửa ddi

lenguyenphat
10-05-2013, 10:22
câu trả lời tất cả cho bạn là google :D !

chuẩn ko cần chỉnh :sogood:

victories
12-05-2013, 08:46
tốt nhất là gọi thợ đến sửa, thời gian ngồi học làm việc khác bổ ích hơn :D

KIDUTD
12-05-2013, 13:46
Hỏi chung chung thế này thà bác đóng tiền mà đi học ở lớp :look_down:

rendus
14-05-2013, 21:17
Bỏ tiền ra trung tâm học lớp căn bản đi , có kiến thức , có máy xài , lại có bằng nữa :rofl:
Ngồi đây mà hỏi

emoklaga113
26-05-2013, 21:24
mua cục pin CMOS cr2032 3V cỡ 10k lắp vào nhé thím :sogood:

đã làm và vẫn bị như thế em đem đi cho nó kiểm tra thì nó bảo main hư luôn :stick:

ong700
26-05-2013, 22:09
đã làm và vẫn bị như thế em đem đi cho nó kiểm tra thì nó bảo main hư luôn :stick:

Thớt tranh thủ thợ bảo thay main thì mình tự mua nhờ ai kèm tự lắp máy là rành ngay :">

NatsumeYuno
28-05-2013, 01:34
câu trả lời tất cả cho bạn là google :D !

Vote thím này Google là vô đối :look_down:

dotrung0810
29-05-2013, 20:59
câu trả lời tất cả cho bạn là google :D !
#2 luôn đúng ^:)^