Read-only archive. Login and posting are unavailable.

PDA

View Full Version : Những việc cần làm để thiết kế hệ thống hạ tầng thông tin


it.thuongnguyen
14-09-2012, 13:20
Chào các bác ! Em chém gió trên VOZ đã lâu, cũng chưa bắt đầu 1 topic nào có giá trị. Nhân dịp có một số bạn PM hỏi mình "làm thế nào để thiết kế hệ thống mạnng nói riêng và hệ thống hạ tầng CNTT nói chung". Thay vì trả lời cho từng người em xin POST vào đây để mọi người cùng trao đổi, để thấy được cái ngu của mình.

Những gì tôi viết trong POST này không đi sâu vào kiến thức hàn lâm làm gì ? bạn nào cần thì phải tự tìm hiểu. Tôi chỉ viết những kinh nghiệm của mình.

Mắt khác, ngoài những điều tôi viết còn có bài viết của một số anh em chuyên làm trong lĩnh vực này.

Nhiều bạn gửi email cho mình hỏi nội dung chủ yếu như sau: "Xếp giao cho em thiết kế hệ thống mạng cho toà nhà mới xây em phải cầu hình server như thế nào, mua switch gì ..." tất cả các bạn đều không chú ý cái các bạn hỏi nó chỉ là 1 phần trong 1 hệ thống mà thôi. Cái các bạn cần là làm sao thiết kế toàn bộ hệ thống đó.

Trong topic này, chỉ thấy mọi người đề cập đến Server là chính vì nó là máy tính chuyên dụng. Cũng chẳng biết POST vào đâu thôi quăng luôn vào đây. MOD nào đi qua thấy không phù hợp vui lòng để lại PM hay tin nhắn để mình biết khỏi phải viết. Nếu OK thì Thanks... yêu MOD nhiều :beauty:

Nội dung chính em đề cập không đi sâu vào quá trình thực hiện, em chỉ đề cập đến các bước thực hiện. Đối với một số hạng mục em biết chính xác em sẽ trình bày cụ thể.

Vậy chúng ta bàn đến những cái gì trong hệ thống hạ tầng thông tin, em liệt kê ra 1 số những hạng mục cần thiết để mọi người dễ hình dung.

Phần 1 - Hạ tầng

1. Hệ thống Cabling
2. Hệ thống sàn nâng
3. Hệ thống máy lạnh
4. Hệ thống nguồn
5. Hệ thống báo cháy, chữa cháy
6. Hệ thống chống sét
7. Hệ thống an ninh
8. Switching và routing
9. Firewall
10. Loadbland (inbound and outbound)
11. Server
12. ...

Bonus:
1. Camera
2. Tel
3. Access Control

Phần 2 - Các dịch vụ cần thiết (system)

Phần 3 - IT policy

** Chú ý: Đây là cuộc trao đổi mở, mong các anh em chuyên gia chia sẻ kiến thức đừng giấu nghề, mình cảm ơn ... :surrender: Mình cố gắng cung cấp thông tin gần với thực tế nhất, không cầu kỳ trong trình bày vì vậy có đôi chỗ câu cú lủng củng hay sai chính tả ... mọi người không cần quan tâm.

it.thuongnguyen
14-09-2012, 13:51
1. Hệ thống Cable có cấu trúc.

Làm gì thì làm các bạn phải đảm bảo là hệ thống cable mà mình thiết kế hỗ trợ đa dịch vụ, kể cả quang lẫn đồng. Nói cho đơn giản là cái gì chạy trên cable đồng xoán đôi đều chạy được trên hệ thống cable mà ta thiết kế.

Để thiết kế 1 hệ thống cable chúng ta cần những thông tin gì ? và làm như thế nào ?

- Làm việc với chủ đầu tư, xin cái info của hạng mục CNTT cụ thể bác phải nắm được là chủ đầu tư muốn gì và chi bao nhiêu obama cho cái hạng mục này.

- Làm việc với BQL dự án xây dựng xin họ cái file CAD mặt bằng, nội thất, quy hoạch các phòng chức năng ...

- Làm việc tiếp với chủ đầu tư xem cái phòng nào là cái phòng Server Room, căn cứ vào cái sơ đồ chức năng hay cái thuyến minh của bên kiến trúc để xác định mình cần bao nhiêu port mạng cho từng phòng, vị trí nó ở đâu. Xong cái này bác sẽ biết được mình có bao nhiêu node mạng.

- Khi biết có bao nhiêu node mạng, bác căn cứ vào cái bản vẽ mặt bằng xác định xem mình cần bao nhiêu Cable. Chiều dài tối đa là bao nhiêu.

- Xong phần này bác sẽ lên được BOM thiết bị (Cabling) Tuỳ theo giải pháp (Patch panel truyền thống hay connecting block .. ) sẽ có số lượng thiết bị tương ứng như: Số lượng FacePlate là bao nhiêu ? Patch Panel là bao nhiêu ? Patch cord là bao nhiêu ? Connector là bao nhiêu ? ..... và nhiều thứ khác .

- Xong phần này chúng ta chuyển qua phần vật tư thi công. Bác có thể chọn đi âm sàn hay trên trần tuỳ ý nhưng khuyến khích là trên trần nhé trừ những chỗ bắt buộc phải đi âm sàn.

- Xong phần phương pháp thi công bác sẽ phải tính được cần bao nhiêu ống, đế âm, trunking, băng keo, dây rút .....

Tính xong cái đống này làm 1 cái list cho xếp xem rồi mới các công ty thi công chào giá. Xong xét duyệt ký xoẹt xoẹt, oánh dấu cái bụp thì chuyển sang phần thương thảo hợp đồng. Ký xong hợp đồng chuyển tiền rồi thì vác cái balo lang thang công trình xem người ta làm. Chỗ nào sai thì bắt lằm lại nếu không làm lại thì miễn ký nghiệm thu nhé he he.

Cuối cùng sau khi hoàn tất rồi thì Test report nghiệm thu cho người ta.

* Cách tính toán khối lượng thiết bị.

Việc tính toán khối lượng thiết bị, vật tư thi công của hệ thống cable phụ thuộc rất nhiều vào mô hình mà chúng ta thiết kế.

2 Mô hình thường được dùng nhiều nhấtt trong việc thiết kế hệ thống mạng cable có cấu trúc.

Mình không giải thich nhiều, các bạn nhìn hình sẽ hiểu

- Mô Hình Thiết Kế Phân Tán - DNA - Distributed Network Architecture

http://i253.photobucket.com/albums/hh71/thuongnh/DNA.jpg

- Dùng cho các tòa nhà lớn và khu campus
– Dựa trên tiêu chuẩn thiết kế của TIA/EIA & ISO
– Giảm số lượng cáp quang trục chính
– Tăng thời gian và chi phí quản lý
– Không tận dụng hiệu quả các cổng trên switch


- Mô Hình Thiết Kế Tập Trung - CNA - Centralized Network Architecture

http://i253.photobucket.com/albums/hh71/thuongnh/cna.jpg

– Giảm thời gian và chi phí quản lý
– Tận dụng hết khả năng của các cổng trên switch
– Dựa trên tiêu chuẩn TIA/EIA TSB-72
– Giảm không gian cho các Telecommunications closet
– Dễ di dời hệ thống cáp
– Giảm điểm hư hỏng trên switch
– Chi phí lắp đặt ban đầu cao

Ở đây tôi chỉ bàn đến hệ thống thiết kế theo kiểu CNA, với kiểu thiết kế này tôi thường hay sử dụng phương pháp đấu nối như sau:

http://i253.photobucket.com/albums/hh71/thuongnh/daunoi-2.jpg

Có lẽ mình không cần giải thích nhiều các bác nhỉ, xem hình và đoán cho nó dễ nhớ. :gach:

Quay lại vấn đề bốc vật tư:

Căn cứ vào bản vẽ chúng ta được khối lượng cable thi công, vậy tính như thế nào cho đủ: ???

Chiều cao của tường 2 đầu; 1 đầu tại vị trí outlet và 1 đầu tại vị trí tủ rack, 5 mét mỗi đầu. 1 sợi tăng 10 mét.

Khoảng cách cáp dư tối thiểu tại tủ chừng 3 – 5 mét; khoảng cách cáp dư tối thiểu tại outlet 1 – 2 mét.

Hao cáp trong quá trình thi công, cáp dư còn lại trong thùng không thi công lại được vì không đủ thi công cho các đường cáp khác.

Nhân hao hụt thi công 20%.

Xong ta được khối lượng cable

Tiếp theo mấy thứ khác ta căn cứ vào số lượng node mạng trong thiết kế và phương pháp đấu nối

Trong trường hợp tôi dùng phương pháp đấu nối là Voice - Databakup

Cần 24 node mạng, trong đó 12 port chạy voice và 12 port chạy DATA vậy ta cần gì ?

1. 12 cái faceplate 2 port
2. 24 cái Modular Jack
3. 1 cái patch panel 24 cho Data
4. 1 cái patch panel 24 port cho voice
5. 12 cái đế âm
6. 24 sợi patch code cho Data
7. 24 sợi patch code cho voice

Cứ thế tính theo số lượng thực tế, riêng phần patch cable chú ý mua nhiều màu cho dễ phân biệt.

VD: Màu vàng cho DATA, Màu xanh cho Voice, Màu đỏ cho thiết bị (trunk switch .... ) Kinh nghiệm của mình là chọn Data màu vàng nhìn rất là đẹp hi hi

Phần vật tư thi công (ống, trunking ....) căn cứ vào bản vẽ mà tính, nhưng cái này đòi hỏi chút kinh nghiệm về thi công nên tốt nhất là nhờ mấy chú thiết kế M&E bốc khối lượng cho.

... tiếp theo ... Chọn cable nào ? Giới thiệu 1 chút về cable quang và phương pháp đấu nối

BaConSoi
14-09-2012, 14:31
Quá hay hay! Hóng tiếp tập 2 :adore:

it.thuongnguyen
17-09-2012, 13:40
Tiếp theo phần Cable

Mình xin đưa ra các hãng và những đặc điểm chung của từng loại để mọi người dễ hình dung. Mình chỉ đề cập đến Cable UTP 5 và 6

Các hãng cable có thể mua trên thị trường

1. AMP, Krone (TE) - Quang Dũng, Nhân Sinh Phúc, ADC phân phối
2. Panduit - Nhất việt JSC, Sao Bắc Đẩu Phân phối
3. SYSTIMAX - QD Tek
4. Netxans - U&M
5. Clipsal
6. Belden
7. Nhiều loại nữa ...

Việc lựa chọn phụ thuộc vào nhiều yếu tố nhưng quan trọng nhất vẫn là chi phí đầu tư. Hàng bình dân thì AMP, Krone, Netxans cao cấp yêu cầu cao thì Belden, sixtymax, panduit.

Khi lựa chọn 1 hãng cable nào đó cho dự án thì nên chọn toàn bộ thiết bị đấu nối của hãng đó.

- Cấu Trúc Cáp xoán đôi Unshielded & Screened

– Ruột bằng dây dẫn cứng (solid) hoặc mềm (stranded) 24 – 22 AWG (American Wire Gauge)

– Lớp bọc cách điện dây dẫn

– Lớp vỏ ngoài bằng nhựa dẻo: PVC (non-plenum),LSZH, & FEB (plenum)

– Cáp FTP (Foil Twisted Pair) có thêm lớp lá kim loại (foil); cáp Sc/FTP (Screened/Foil Twisted Pair) có thêm lớp lá kim loại (foil) và lớp lưới bện bọc cácđôi. Cả 2 đều có dây tiếp đất.

Xếp Loại Vỏ Cáp – CM, CMR, CMP

CM (Communication Metallic) – Cáp CM grade thường được làm patch cord và đi cáp ngang trong cùng một tầng (không dùng trong các ứng dụng riser hay plenum)

CMR (Communication Metallic Riser) - Cáp CMR grade dùng trong các ứng dụng riser, cáp xuyên tầng theo đường trục đứng, ngọn lửa xuất hiện ở 1 tầng sẽ không lan sang tầng phía trên.

CMP (Communication Metallic Plenum) – Cáp CMP grade dùng trong ứng dụng plenum hay có thể được đi trực tiếp trong plenum không cần ống. Mục tiêu chính của cáp CMP là giới hạn độ lan truyền ngọn lửa và giảm thiểu phần lớn lượng khói cho phép các nạn nhân và người chữa cháy có thể thấy các chi tiết trong tòa nhà như đường thoát, cầu dao điện,..

Xếp Loại Vỏ Cáp – LSZH

Cáp non-halogen có các tên chung như sau:

LS0H Low Smoke Zero Halogen (Ít khói – Không có khí độc)

LSZH Low Smoke Zero Halogen

HFFR Halogen Free Fire Retardant

FRZH Fire Retardant Zero Halogen

LSFRZH Low Smoke Fire Retardant Zero Halogen

Mọi tên gọi như trên nhằm chỉ cùng một loại cáp, đó là low smoke zero halogen cable (LSZH).

Cáp LSZH thường được sử dụng trong các ứng dụng trong nhà nhưng cũng có thể ứng dụng ngoài trời với khả năng ngăn độ ẩm và nước gọi là cáp ULSZH (Universal LSZH).

** Căn cứ và ứng dụng và mục đích sử dụng cụ thể để lựa chọn cable cho phù hợp.

Cách phân biệt cable giả AMP (AMP dễ bị giả nhất so với các loại khác vì thương hiệu nó quá nổi tiếng)

Tham khảo tại đây: http://www.ampnetconnect.com.vn/newte/index.php?menu=3&type=3
(http://www.ampnetconnect.com.vn/newte/index.php?menu=3&type=3)

Nói thật là việc kiểm tra TAG của từng thùng cable rất là mất thời gian, đối với những hệ thống có khối lượng cable nhỏ thì không sao nhưng có vài trăm thùng sẽ là 1 vấn đề lớn.

Quan trọng nhất là mua tại những đơn vị cung cấp uy tín, khi mua nhớ đòi cái CO (chứng từ nhập khẩu)

it.thuongnguyen
17-09-2012, 13:45
Tìm hiểu về cable quang

Bài viết đúc kết từ kinh nghiệm bản thân qua các dự án thi công cáp quang và quá trình nghiên cứu về cáp quang. Mong rằng có thể hổ trợ các bạn trong khâu chọn lựa thiết bị, giải pháp phù hợp.

Sợi quang là những dây nhỏ và dẻo truyền các ánh sáng nhìn thấy được và các tia hồng ngoại. Chúng có 3 lớp: lõi (core), áo (cladding) và vỏ bọc (coating)

http://www.thuongnguyen.info/wp-content/uploads/2012/03/fiber_optic_cable.jpg

Để ánh sáng có thể phản xạ một cách hoàn toàn trong lõi thì chiết suất của lõi lớn hơn chiết suất của áo một chút.

Vỏ bọc ở phía ngoài áo bảo vệ sợi quang khỏi bị ẩm và ăn mòn, đồng thời chống xuyên âm với các sợi đi bên cạnh.

Lõi và áo được làm bằng thuỷ tinh hay, chất dẻo (Silica), kim loại, fluor, sợi quang kết tinh). Chúng được phân loại thành các loại sợi quang đơn mode Single Mode (SM) và đa mode Multimode (MM) tương ứng với số lượng mode của ánh sáng truyền qua sợi quang. Mode sóng là một trạng thái truyền ổn định của sóng ánh sáng (cũng có thể hiểu một mode là một tia).

http://www.thuongnguyen.info/wp-content/uploads/2012/03/fiber_spec.gif

Theo Mode thì có: SM và MM (MM có 2 loại: 62.5 và 50).

Theo môi trường lắp đặt thì có Outdoor và Indoor.

Outdoor lại chia ra thành các loại: F8 và Underground

Single Mode (SM) và Multi Mode (MM)

- Sợi SM chỉ truyền được một mode sóng do đường kính lõi rất nhỏ (khoảng 10 micromet). Do chỉ truyền một mode sóng nên SM không bị ảnh hưởng bởi hiện tượng tán sắc và thực tế SM thường ít được sử dụng hơn so với MM.

- Sợi MM có đường kính lõi lớn hơn SM (khoảng 6-8 lần), có thể truyền được nhiều mode sóng trong lõi.

Ngoài ra chúng còn được phân loại thành sợi quang có chỉ số bước và chỉ số lớp tuỳ theo hình dạng và chiết suất của các phần của lõi sợi quang.

Khoảng cách giữa 2 thiết bị đấu nối bằng cáp quang không quy định cụ thể là bao nhiêu km.

Khoảng cách giữa 2 thiết bị căn cứ vào tính toán suy hao toàn tuyến, công suất phát, độ nhạy thu và công suất dự phòng của thiết bị.

Thông thường mỗi thiết bị đều có khuyến cáo chạy ở cự ly nhất định, tuy nhiên đó chỉ là tính tương đối thôi.

Chuẩn bước sóng cho thiết bị chạy SM và MM có khác nhau:

MM có các bước sóng chuẩn là: 780, 850 và 1300. Hiện nay các thiết bị ít dùng bước sóng 780.

SM có các bước sóng: 1310, 1550, 1627. Hiện nay các thiết bị SM dùng công nghệ DWM thì còn có thể sử dụng nhiều bước sóng khác nữa.

Đa phần cáp quang single mode chỉ dùng cho đường trục, ngoài việc giá thành, công nghệ của cáp single mode rất khắc khe, và rất khó trong việc thi công cũng như sử dụng. Lý do: lớp lõi của cáp single mode rất nhỏ (khoảng 27 Micromet), còn của multi mode thi lớn hơn rất nhiều (khoảng 130 Micromet). Ngoài ra, do kết cấu lõi single mode cho ánh sáng đi theo đường thẳng, mà giá thành chế tạo, cũng như độ chính xác trong thi công, thiết bị công nghệ cao... làm cho cáp Single Mode khó thực hiện trong các công trình dân sự.

Còn việc phân biệt: chủ yếu là do đường đi của ánh sáng truyền trong lõi (mà nguyên nhân là do kết cấu của lõi)

Trong Single mode, ánh sáng đi theo gần như một đường thẳng trùng với trục cáp, còn trong Multi Mode, ánh sáng đi theo một chùm tia sáng có dạng đồ hình Sin đồng trục (vì thế mà ta có thể ghép thêm nhiều ánh sáng có các bước sóng khác nhau).

Về thông số vật lý:

Đường kính lõi sợi (phần truyền tin):

Core:
SM: 9/125
MM: 50/125 và 62.5/125.

Đường kính vỏ phản xạ:

Cladding thì cả SM và MM đều như nhau là 125um.

Về Coating thì tùy thuộc vào dặc tính cần bảo vệ mà người ta làm lớp này, tuy nhiên thông thường đối với cáp Outdoor thì nó là 250, với cáp Indoor thì nó là 900, điều này không phụ thuộc vào nó la cáp SM hay MM.

Về sử dụng thì tùy thuộc vào công suất phát, độ nhạy thu, khoảng cách truyền dẫn, tốc đọ yêu cầu và giá thành mà người ta quyết định dùng SM hoặc MM.

Các loại Connector của cáp quang:

Single Mode (SM)

http://www.thuongnguyen.info/wp-content/uploads/2012/03/Singlemode_PC.jpg

http://www.thuongnguyen.info/wp-content/uploads/2012/03/singlemode-fiber-04-1.gif

http://www.thuongnguyen.info/wp-content/uploads/2012/03/Singlemode_connector_list.jpg

Multi Mode (MM)

http://www.thuongnguyen.info/wp-content/uploads/2012/03/Multimode_PC.jpg

http://www.thuongnguyen.info/wp-content/uploads/2012/03/multimode-fiber-02-1x1.gif

http://www.thuongnguyen.info/wp-content/uploads/2012/03/Multimode_connector_list.jpg

Việc chọn lựa Connector phụ thuộc vào việc chọn lựa ODF Quang ( là tủ cố định vị trí đấu nối của sợi quang ) và kiểu Modular trên thiết bị Switch hoặc Converter.

ODF quang

http://www.thuongnguyen.info/wp-content/uploads/2012/03/RdM_ODF_SCM_5.jpg

http://www.thuongnguyen.info/wp-content/uploads/2012/03/RdM_ODF_SCM_2.jpg

Optical fiber adapter

http://www.thuongnguyen.info/wp-content/uploads/2012/03/adaptor.jpg

http://www.thuongnguyen.info/wp-content/uploads/2012/03/attenuator-300x300.jpg

Thiết bị chuyển đổi tín hiệu cáp Quang sang cáp đồng

http://www.thuongnguyen.info/wp-content/uploads/2012/03/60_mainimage.jpg

http://www.thuongnguyen.info/wp-content/uploads/2012/03/CONVERTER-01191019b.jpg

Kỹ thuật mài đầu Connector cáp quang:
http://www.thuongnguyen.info/wp-content/uploads/2012/03/noi_quang1.jpg

Lấy đầu Connector gắn vào sợi quang rồi mài cho phẳng đầu. Có nhiều loại đầu connector của các hãng khác nhau nhung ở VN thì chủ yếu là đầu connector AMP thôi, loại đầu này không cần dùng keo gắn mà nó có khoá sợi ở trong. Thi công theo kỹ thuật này thì đơn giản nhưng suy hao cao do làm thủ công và chi phí sửa chữa và xử lý sự cố cáp bằng chi phí làm ban đầu do các đầu Connector chỉ dùng được 1 lần duy nhất.

Kỹ thuật hàn nối bằng hồ quang

Dùng máy hàn cáp quang chuyên dụng hàn một sợi dây nối vào cáp, dây nối là loại dây đã có 1 đầu Connector gắn sẵn rồi ( patch cord quang)

Kỹ thuật này có nhược điểm là ít người làm vì chi phí đầu tư máy khá cao (khoảng 12K USD/ sợi ) nhưng ưu điểm của nó là chi phí sửa chữa và xử lý sự cố khá rẻ do dây nối có thể sử dụng nhiều lần (mỗi sợi dây nối dài trung bình 2,5 mét. Mỗi lần xử lý phải cắt đi 3 cm).

Bài viết của: Nguyễn Thượng Triều - www.iis.vn

Các vấn đề cần lưu ý khi lựa chọn cáp quang cho hệ thống

1. Xác định yêu cầu về môi trường.

Vật lý và môi trường là yếu tố đầu tiên cần được lưu ý trước tiên. Môi trường ở đây là nhiệt độ, độ ẩm,… Vật lý chính là độ rung và tải trọng của cáp,…

Cáp quang sử dụng trong nhà phù hợp với tiêu chuẩn chống cháy có ít lớp bảo vệ vật lý nên có thể linh hoạt hơn trong việc thi công lắp đặt (vỏ Indoor).

Cáp quang sử dụng ngoài trời có lớp UV chịu được những điều kiện khắc nghiệt như nhiệt độ, độ ẩm, bụi,… Loại cáp này được thiết kế với nhiều lớp bảo vệ vật lý (vỏ Outdoor).

Cáp quang chôn trực tiếp có thêm vòng thép quấn bên trong tăng tính chịu lực cho cáp. Tăng khả năng chịu va đập và bảo vệ khỏi động vật gặm nhắm.

2. Xác định yêu cầu về ứng dụng và khoảng cách truyền dẫn.

Cáp quang sẽ được sử dụng cho ứng dụng nào? Ứng dụng yêu cầu tốc độ 100Mbps, 1Gbps hay 10Gbps… Khoảng cách truyền dẫn giữa các kết nối là bao nhiêu? Tùy thuộc vào khoảng cách kết nối và tốc độ mà ta có thể chọn được loại cáp quang phù hợp. Bảng sau mô tả các ứng dụng và loại cáp quang tương ứng.

http://i253.photobucket.com/albums/hh71/thuongnh/lua-chon-cap-quang_zps0706daa7.png

Trong đó: OM1, OM2, OM3, OM4 là cáp Multimode, OS1 là cáp Singlemode

Single Mode : Cáp quang Singlemode (SM) có đường kính core khá nhỏ khoảng 9µm, sử dụng nguồn phát laser truyền tia sáng xuyên suốt vì vậy tín hiệu ít bị suy hao và có tốc độ khá lớn. SM thường hoạt động ở 2 bước sóng (wavelength) 1310nm hoặc 1550nm thường sử dụng cho những ứng dụng tốc độ cao và khoảng cách kết nối lớn lên đến vài chục km.

Multimode: Cáp quang Multimode (MM) có đường kính core khoảng 50µm, 62.5µm. MM sử dụng nguồn sáng LED (Light Emitting Diode) hoặc laser để truyền tia sáng và thường hoạt động ở 2 bước sóng 850nm, 1300nm. MM có khoảng cách kết nối và tốc độ truyền dẫn nhỏ hơn SM.


3. Số lượng sợi quang cần sử dụng.

Số lượng sợi quang trong cáp quang thường dao động từ 1 đến 144 sợi, ta có thể chọn: 1, 2, 4, 6, 8, 12, 18, 24, 36, 48, 60, 72, 84, 96, 108, 120, 132, 144 sợi. Thông thường, chúng ta nên chọn loại cáp quang có số sợi quang lớn hơn so với nhu cầu thực tế sử dụng, mục đích để dự phòng sau này hoặc do yêu cầu băng thông nhiều hơn trong tương lai.

Hệ thống cáp quang được sử dụng rộng rãi trong nhiều môi trường khác nhau như trong nhà, ngoài trời, chôn dưới đất hoặc thậm chí trong các vệ tinh không gian. Do đó việc nắm bắt được cách phân loại cũng như nhu cầu sử dụng và mở rộng một cách chính xác sẽ giúp tối ưu hóa hiệu quả đầu tư cho hệ thống kết nối cáp cấu trúc – hạ tầng cơ bản nhất của bất kỳ hệ thống mạng.

it.thuongnguyen
17-09-2012, 13:56
Phần cuối cùng tôi xin nói đến trong phần cabling là phần đánh lable cho hệ thống cable.

Về qui tắc đánh nhãn tại các khu vực đấu nối theo quy tắc như sau:

Dây Cat5e, Cat6, cáp quang, multipair thoại sau khi kéo, trước khi đấu vào ODF, patch panel, jack outlet, phiến phải có số dây. Số dây này để quản lý 2 đầu khi cần tool, kéo lại không liên quan đến nhãn.

Nhãn tại outlet và patch panel cùng 1 channel giống nhau tại 2 đầu

Có 2 cách quy ước đặt tên nhãn phổ biến:

Theo thứ tự và số lượng node data, voice trên 1 tầng. Cách này rất phổ biến ví dụ hệ thống KBNN TpHCM, HQ HDBank...

Theo tên phòng ban chức năng và số lượng data, voice trên 1 tầng. Cách này ít đơn vị sử dụng hơn: Metro VN Cash&Carry, 1 số site NH Việt Á ...

Trường hợp 1:

Dxx.yyy hay Txx.yyy

Trong đó:

D: node mạng dữ liệu

T: node điện thoại

xx: vị trí tầng. Giá trị từ 1 đến n

yyy: vị trí node mạng/ thoại trong tầng

Ví dụ: D11.123: node mạng dữ liệu thứ 123 trong tầng 11

Ví dụ: T03.101: node thoại thứ 101 trong tầng 3

Trường hợp 2

Tên phòng: kí tự A, B, C, D......tương ứng với phòng Giám đốc, phó Giám đốc, Kỹ thuật, Đầu tư....

Tên phòng tăng dần tại mỗi tầng theo chiều kim đồng hồ

Tên node : “Số tầng-tên phòng-số thứ tự node trong phòng”

Số thứ tự node trong phòng: tăng dần tại mỗi phòng theo chiều kim đồng hồ

Ví dụ: “1-A-D01”: node mạng tại tầng 1, phòng A, node ở vị trí 01.

Dán nhãn patch cord: số thứ tự tăng dần, không trùng lắp, 2 đầu giống nhau

Dán nhãn port trên ODF 2 đầu theo qui ước "Tầng-Dây cáp quang-Port duplex".

Ví dụ 2 dây cáp quang 12 core kéo từ tầng Hầm (EF) đến tầng 4 (BD) sau khi hàn nối vào ODF được 12 port duplex, đặt tên tại 2 ODF 2 đầu như sau "04_01_01" đến "04_01_06" và "04_02_01" đến "04_02_06"

Dán nhãn đối với phiến thoại không giống với các thành phần patch panel, ODF do không có không gian ghi nhãn mà thông tin rất nhiều --> có 1 sheet hướng dẫn về nhãn cho IDF, MDF thoại tại các vị trí này. Nội dung trên sheet

Tên IDF/MDF

Số thứ tự phiến trên IDF/MDF
Số thứ tự port trên phiến: thường từ 1 đến 10
Dây in: màu pair dây, từ IDF/MDF/PABX nào đến, số CO nếu có...
Dây out: màu pair dây, từ IDF/MDF/PABX nào đến, số extension/hot line nếu có...

Đối với hệ thống sử dụng phiến Krone HighBand hay Data Center lại có quy tắc đánh nhãn cụ thể khác.

it.thuongnguyen
17-09-2012, 17:32
Một vấn đề nữa của cable là nên hay không nên dùng Cable bấm.

Cái tôi muốn nói ở đây là Patch cord, thông thường trong 1 node mạng tiêu chuẩn có 2 sợi, 1 đầu là Switch - Patch Panel - 1 đầu là PC - Outlet

Về ý kiến cá nhân, tôi không khuyến khích sử dụng patch cord bấm, mặc dù chúng ta bấm đúng chuẩn, đẹp, đúng kỹ thuật (test bằng máy DTX-1800 pass)

Cái được và cái mất khi sử dụng patch cord bấm ở đây là gì

1. Được
- Chi phí thấp
- Cable đi đẹp vì chiều dài từng sợi chúng ta quy định được
- Dễ dàng sử dụng những lable có sãn mà không cần những máy in nhãn chuyên dùng, cái máy với mấy miếng decal này đắt lòi.
- Chiều dài không hạn chế, thích nhiêu thì nhiêu
- Màu sắc không đa dạng

2. Mất
- Chứng chỉ bảo hành của hãng, trừ hãng netxans patch cord bấm nhưng vẫn được bảo hành và có report
- Chi phí cao
- Chiều dài hạn chế

Túm lại: Nên hay không là tuỳ vào túi tiền của mỗi chủ đầu tư.

it.thuongnguyen
17-09-2012, 17:48
Tính mỹ thuật của hệ thống cable

Thời điểm hiện tại, hệ thống cable ngoài việc thi công đúng tiêu chuẩn, đúng kỹ thuật mà con phải đẹp. Đối với những bạn làm công việc quản trị hệ thống thì đẹp không có ý nghĩa gì to lớn lắm, nhưng đối với những anh em thi công việc đi cable đẹp đòi hỏi 1 quá trình tham gia triển khai mới làm được.

Còn khi đi vào vận hành, sau 1 thời gian hệ thống cable trong tủ nó sẽ thành 1 cái mạng nhện. Rất xấu và khó quản lý.

Việc đi cable đẹp hay xấu sẽ anh hưởng đến level của cá nhân, hi hi cái này không nói ai cũng biết cả. Vậy làm sao cho đẹp, cái này không viết ra được nếu có điều kiện mình sẽ hướng dẫn cụ thể.

Một vài hình ảnh

http://www.3way.com.au/images/istock_000001302438small.jpg

http://www.networkcabling.net/wp-content/themes/seola-networkcabling/images/network-cabling.jpg

http://www.eurocoms.co.uk/structured%20cabling.jpg

Với những hình ảnh này tôi nghĩ không quá khó để thực hiện :gach:

Em thich mấy sợ patch cord màu này, quá đẹp :beauty:

http://www.cable-installation.co.uk/_files/structured-cabling-main.jpg

f4brk
20-09-2012, 16:37
Tuyệt vời quá. Em mới bắt đầu công việc quản lý IT ở một công ty nên chưa có kinh nghiệm gì hết, mọi thứ rất mù mờ. Nay đọc được các cmt và đặc biệt là topic này của bác thấy dễ hình dung hơn rất nhiều.
Thks bác. Tiếp đi bác ơi.

it.thuongnguyen
21-09-2012, 13:07
Tuyệt vời quá. Em mới bắt đầu công việc quản lý IT ở một công ty nên chưa có kinh nghiệm gì hết, mọi thứ rất mù mờ. Nay đọc được các cmt và đặc biệt là topic này của bác thấy dễ hình dung hơn rất nhiều.
Thks bác. Tiếp đi bác ơi.

OK nhưng chưa có thời gian !

Thứ 2 đầu tuần mình sẽ bắt đầu lại vì đang đi công tác

xom214
22-09-2012, 11:57
Topic rất hay, mong bạn không bỏ cuộc để anh e được mở mang kiến thức.
Rất cảm ơn!!!

it.thuongnguyen
24-09-2012, 11:54
Lựa chọn kiểu bấm đầu cáp mạng theo T-568A hay T-568B

Mọi người thường hay nhắc đến T-568A và T-568B. Vậy T-568A và T-568B là gì ? Chúng có gì khác nhau và nên lựa chọn sử dụng T-568A hay T-568B ?

T-568A và T-568B là gì ?

Dựa trên tiêu chuẩn TIA/EIA-568-B.1-2001, T-568A và T-568B là đề án xác định sơ đồ đấu dây của cáp đồng đôi xoắn và đầu nối RJ-45 (modular plug) hoặc ổ cắm mạng (modular jack) để tạo kết nối Ethernet.

http://i253.photobucket.com/albums/hh71/thuongnh/568A_568B_zps464edcb7.jpg

Tùy thuộc vào sở thích, vùng miền và các dự án sẵn có, bạn có thể lựa chọn cách bấm đầu cáp mạng theo T-568A hoặc T-568B hay kết hợp cả 2 phương án trên trong một số trường hợp đặc biệt.

Điểm khác biệt giữa T-568A và T-568B ?

Điểm khác biệt duy nhất giữa T-568A và T-568B là đôi dây thứ hai (màu cam) và đôi dây thứ ba (màu xanh lá) được hoán đổi vị trí cho nhau.

Sự kết hợp giữa T-568A và T-568B

Để hệ thống mạng có thể hoạt động, hầu hết chúng ta thường dùng “cáp thẳng” – cả hai đầu của đoạn cáp đều được bấm theo một chuẩn T-568A hoặc T-568B. Tuy nhiên trong một số trường hợp đặc biệt khi kết nối 2 thiết bị cùng loại với nhau như router với router thì chúng ta phải sử dụng “cáp chéo” – một đầu cáp được bấm chuẩn T-568A và đầu còn lại được bấm chuẩn T-568B.

Việc sử dụng pha trộn những đoạn “cáp thẳng” theo T-568A và T-568B trong cùng một hệ thống mạng sẽ không sinh ra các vấn đề về lỗi. Tuy nhiên, cách này sẽ dễ dàng tạo ra sự nhầm lẫn trong quá trình thi công và quản lý về sau.

Lựa chọn kết nối theo T-568A hay T-568B

Bạn cần nắm bắt một số thông tin cần thiết trước khi lựa chọn bấm đầu cáp mạng theo T-568A hay T-568B, bởi vì việc này sẽ ảnh hưởng rất nhiều đến các hoạt động của bạn.

Như một quy luật chung, T-568A và T-568B không nên được kết hợp hoặc đổi chổ lẫn nhau. Thông thường chuẩn T-568B được lựa chọn cho các hệ thống mạng mới sau này.

Nếu trong dự án đã qui định T-568A hay T-568B, bạn nên sử dụng phương pháp bấm đầu cáp mạng theo đúng chỉ định.

Trong trường hợp cần mở rộng một cơ sở hạ tầng mạng đang hoạt động, bạn cần chú ý tìm hiểu chuẩn bấm đầu cáp mạng nào đang được sử dụng (thông qua các hồ sơ hoặc kiểm tra cáp) và tiếp tục tiến hành theo tiêu chuẩn đó.

Điều gì sẽ xảy ra nếu bạn bấm đầu cáp không tuân theo tiêu chuẩn nào ?

Đây là điều rất không nên. Bởi vì các tiêu chuẩn đưa ra đều đã trải qua đánh giá và nghiên cứu của các đơn vị sản xuất, các nhà nghiên cứu, người tiêu dùng… để có được một tiêu chuẩn chung nhất, mang lại hiệu suất tốt nhất.

Bạn sẽ gặp khó khăn trong việc quản lí hệ thống mạng nếu không tuân theo các tiêu chuẩn.

Chất lượng của kết nối sẽ không được đảm bảo và có khả năng bị nhiễu xuyên âm cao.

it.thuongnguyen
24-09-2012, 12:35
Những vấn đề cần quan tâm khi lựa chọn tủ rack

Nhắc tới hệ thống mạng, chúng ta ngay lập tức nghĩ đến hệ thống cáp và các thiết bị mạng như router, switch, server, storage. Tuy nhiên chúng ta thường quên đi một thành phần khác cũng quan trọng không kém – đó là nơi lắp đặt và tổ chức các thiết bị hạ tầng vật lý: tủ rack (Cabinet). Do vậy, khi lựa chọn tủ rack, người dùng thường bỏ sót các các thông tin cần thiết thường được cung cấp trong bảng thông số kỹ thuật nhà sản xuất đưa ra. Điều này có thể ảnh hưởng đến sự hoạt động của cả hệ thống mạng. Bên dưới là những vấn đề người dùng cần phải lưu ý khi lựa chọn tủ rack phù hợp nhất với nhu cầu thực tế của hệ thống mạng:

1. Tủ rack được đặt trong môi trường như thế nào? (cụ thể đặt ngoài trời hay trong nhà?)

Khi đặt trong nhà, nếu tủ được đặt trong phòng riêng, có hệ thống làm mát và môi trường sạch sẽ, không bụi bẩn thì nên chọn loại có cửa lưới, còn ngược lại thì chọn loại cửa mica.

2. Màu sắc như thế nào ?

Thông thường tủ rack được sơn màu đen, xám, bạc. Tuy nhiên, một số nhà sản xuất có thể điều chỉnh màu sắc theo yêu cầu của khách hàng.

3. Thiết bị nào sẽ được lắp vào tủ và độ sâu của thiết bị như thế nào ?

Phần lớn các thiết bị được lắp vào tủ rack có độ sâu khoảng 11 inches, tuy nhiên một số thiết bị lại có độ sâu gần như gấp đôi. Mặc dù đa số tủ rack đều có khả năng điều chỉnh độ sâu của thanh treo thiết bị nhưng việc biết được chính xác độ sâu của các thiết bị sử dụng sẽ giúp khách hàng chọn được loại tủ có kích thước tối ưu nhất phù hợp với cả các thiết bị bên trong lẫn không gian bên ngoài.

4. Tổng số U bạn cần là bao nhiêu ? (1U = 1.75 inches)

U là đơn vị tính toán không gian bên trong tủ rack theo tiêu chuẩn EIA. Hệ thống lỗ trên các thanh treo trong tủ được chia làm các cụm, mỗi cụm bao gồm 3 lỗ vuông cạnh 0.5 inch (12.70 mm). Mỗi hệ thống 3 lỗ vuông này được thiết kế song song tạo thành một phần không gian bên trong tủ với chiều cao 1U tương đương 1,75 inch (44,45 mm). Các thiết bị gắn trên tủ rack thường được thiết kế dựa trên số U này. Ví dụ như máy chủ 2U, 4U, 6U, hay switch, router 1U, 2U,…

Bạn cần biết được chính xác số lượng thiết bị sẽ sử dụng cùng khả năng mở rộng trong tương lai để biết được nên lựa chọn loại tủ có số U là bao nhiêu.

5. Tủ mạng cần trang bị các phụ kiện đặc biệt ?

Phụ thuộc vào thiết bị được lắp đặt và tủ mạng, có thể bạn cần phải mua thêm phụ kiện như: thanh hỗ trợ lắp thiết bị (rail kit), thanh quản lý cáp, khay trượt, khay cố định... Ngoài ra việc trang bị thêm các dụng cụ hỗ trợ tháo lắp chuyên dụng sẽ giúp tiết kiệm thời gian thi công.

6. Điện sẽ được cung cấp như thế nào?

Thiết bị lắp đặt vào tủ rack cần nguồn điện để hoạt động và cần được bảo vệ khi bị có các sự cố về điện. Phải đảm bảo lựa tủ rack có không gian lắp các thanh nguồn, UPS, dây nối đất để các thiết bị hoạt động một cách an toàn và tăng hiệu quả sử dụng điện năng.

7. Làm sao để quản lý cáp và nhiệt độ trong tủ ?

Các thiết bị giải nhiệt như quạt, máy lạnh, tấm thông hơi và bộ trao đổi nhiệt cần phải được sử dụng để đảm bảo các thiết bị hoạt động tối ưu.

Ngoài ra, thang cáp, máng cáp, thanh quản lý cáp và dây buộc cáp cần được trang bị để giữ cho hệ thống cáp đi vào tủ được gọn gàng và có tổ chức.

it.thuongnguyen
24-09-2012, 13:02
Sàn nâng kỹ thuật

1. Tại sao phải có hệ thống sàn nâng:

Sàn kỹ thuật che lấp đi các loại hệ thống dây, ống dẫn, kỹ thuật ngầm sẽ được đi trong khoảng giữa hai mặt sàn.

Bảo vệ hệ thống dây điện, cáp điện hay bất kì vật liệu gì để dưới sàn tránh được sự xâm hại của côn trùng, hóa chất hay không khí nóng ẩm của mặt sàn bê tông bằng hệ thống giá đỡ được thiết kế phù hợp cho từng công trình, từng loại thiết bị đặt trên sàn phụ.

Giảm tiếng ồn, giảm rung cho thiết bị trong quá trình vận hành.

Giảm tối đa dòng điện đối với con người ngay cả khi có sự cố cháy, nổ.

Không dẫn lửa, cho phép di chuyển các thiết bị kịp thời khi có sự cố hỏa hoạn.

Tạo môi trường khô ráo, sạch sẽ cho các thiết bị để trên sàn


2.Tấm thông hơi hay tấm sàn lỗ là gì :

Với một datacenter tiêu chuẩn thì hệ thống làm mát phải dùng là hệ thống điều hòa thông minh ( điều hòa chính xác ). Nó hoạt động trên nguyên lý, hơi lạnh được đối lưu từ dưới lên trên để tránh hiện tượng có hới nước làm hỏng thiết bị.

Trong một môi trường làm việc của datacanter thì từng khi vực cần làm mát với nhiệt độ khác nhau ( vị trí có Rack hoặc vị trí không có rack ). Chính vì thế tại vị trí nào cần làm mát ta sẽ bố trí tấm thông hơi, như vậy giúp việc làm mát được hiệu quả tối đa.

http://i253.photobucket.com/albums/hh71/thuongnh/kgp_sannang01_zps34cd0efd.jpg

Tỷ lệ và cách bố trí các tấm lát sàn đục lỗ là các yếu tố chủ yếu trong việc duy trì áp suất tĩnh. Các tấm lát nên được đặt phía trước ít nhất là mỗi tủ Rack. Với môi trường mật độ cao hơn, các tấm lát sàn đục lỗ cần thiết phải đặt trước mỗi tủ Rack.

Các tấm lát được phân loại theo diện tích hở của chúng, có thể thay đổi từ 25 % (thông thường) cho tới 56% (cho luồng khí cao). Một tấm lát đục lỗ 25% cho ta xấp xỉ 500 feet khối một phút (cfm) ở mức giảm áp suất tĩnh là 5%, trong khi một tấm lát 56% cho ta tới 2000 cfm

3. Các phụ kiện khác :

Foam cách nhiệt chống cháy mặt sàn
Dây tiếp địa chống tĩnh điện sàn nâng
Sơn Expoxy
Cách nhiệt chân đế sàn nâng


http://i253.photobucket.com/albums/hh71/thuongnh/kgp_sannang08_zpsb1f30d01.jpg

4.Tác dụng của sàn nâng:

- Che lấp đi các loại hệ thống dây, ống dẫn, kỹ thuật ngầm sẽ được đi trong khoảng giữa hai mặt sàn.

- Bảo vệ hệ thống dây điện, cáp điện hay bất kì vật liệu gì để dưới sàn tránh được sự xâm hại của côn trùng, hóa chất hay không khí nóng ẩm của mặt sàn bê tông bằng hệ thống giá đỡ được thiết kế phù hợp cho từng công trình, từng loại thiết bị đặt trên sàn phụ.

- Giảm tiếng ồn, giảm rung cho thiết bị trong quá trình vận hành.

- Không dẫn lửa, cho phép di chuyển các thiết bị kịp thời khi có sự cố hỏa hoạn.

- Tạo môi trường khô ráo, sạch sẽ cho các thiết bị để trên sàn

5.Giải pháp:

Trong trường hợp bạn cần lắp đặt phòng server hay phòng máy có dùng điều hòa làm mát ở phía trên của hệ thống sàn nâng và mục đích của bạn là linh hoạt việc đi dây, chống lại sự tĩnh điện, chống thất thoát nhiện, an toàn khi làm việc. Chúng tôi khuyến cáo các đơn vị chỉ cần dùng hệ thống sàn nâng bằng thép lõi là bê tông nhẹ, bề mặt phủ lớp HPL dày 1.2 mm, kích thước định hình 600 mm x 600 mm x 35 mm, và được đặt lên hệ thống chân đế và thanh rằng với độ cao từ 300-500 mm. Trong trường hợp này chúng ta không nên dùng sàn nâng gỗ ép cường độ cao, vì hiện tại khí hậu tại Việt Nam có độ ẩm lớn, nên tuổi thọ của loại sàn này là không cao.

peaceloving9891
28-09-2012, 20:44
hay lắm. rất bổ ích

whitemask
29-09-2012, 14:24
Quá hay luôn bác it.thuongnguyen. Có nhiều thứ trước giờ làm 1 cách máy móc chứ cũng ko hiểu hết. Bác hệ thống lại như thế này thật là rõ ràng, dễ hiểu.

Đợi các phần tiếp theo của bác và các cao nhân khác.

it.thuongnguyen
01-10-2012, 12:23
Quá hay luôn bác it.thuongnguyen. Có nhiều thứ trước giờ làm 1 cách máy móc chứ cũng ko hiểu hết. Bác hệ thống lại như thế này thật là rõ ràng, dễ hiểu.

Đợi các phần tiếp theo của bác và các cao nhân khác.

Thank bác ! em bận quá chưa có thời gian lóc cóc tiếp, thôi cứ được cái nào hay cái đấy. Các bác tự tổng hợp và phân tích thông tin giùm em. em nghĩ đến cái gì thì em viết phần đấy nên nó lung hết cả tung lên.

datafire
02-10-2012, 11:48
Thanks anh nhiều lắm, để Bookmark lại đọc từ từ

it.thuongnguyen
03-10-2012, 15:28
Hức đến đâu rùi ta !!!

... xong phần sàn nâng, vấn đề này thì tùy độ chịu chơi của các xếp, nhưng mà mình khuyến khích trang bị sàn nâng, với lại diện tích nhỏ không đáng bao nhiêu tiền đâu.

Tiếp theo ...

Phần nguồn cho phòng server (mình không nói đến Datacenter ở đây vì nó quá phức tạp)


Phần nguồn điện là phần rất quan trọng, mọi người thường không để ý đến, mặt khác nó rất phức tạp. Vì vậy nên để các chuyên gia về điện thực hiện việc này. Chúng ta cần, nguồn điện đủ và sạch. Kiểm tra như thế nào th2i các bác vui lòng lượn lờ các forum chuyên về M&E nhé, em không bàn sâu vào vấn đề này

Nguồn bao gồm 2 phần nguồn trực tiếp và phần nguồn dự phòng (UPS, Generator)

Nguồn điện là yếu tố quan trọng nhất đối với hoạt động của hệ thống CNTT, vậy chúng ta cần đạt được những điều kiện gì cho nguồn điện.

Nếu có tiền thì đầu tư hệ thống nguồn đúng chuẩn cho datacenter các bác nghiên cứu các tiêu chuẩn quốc tế TIA-942 (TIA:Telecommunications Industry Association- Hiệp hội công nghiệp viễn thông)

Server room, Data Center là nơi tập trung các thiết bị máy chủ, hệ thống mạng và các thiết bị CNTT quan trọng khác vì vậy nguồn điện ổn định, sạch là yêu cầu bắt buộc và là ưu tiên hàng đầu. Hệ thống cung cấp nguồn cho một server room tiêu chuẩn có thể biểu diễn như hình sau:

http://i253.photobucket.com/albums/hh71/thuongnh/ap_20090925092720672.jpg

Trong đó có các thành phần cơ bản như:

Máy biến áp: ám chỉ máy biến áp hạ thế của nguồn điện lưới quốc gia, đây là nguồn cung cấp thường trực cho server room. Đối với server room tùy vào chuẩn thiết kế khác nhau người ta có thể có từ 1 đến nhiều nguồn điện lưới để bảo đảm tính dự phòng lẫn nhau.

Máy phát điện: nguồn điện dự phòng cho hệ thống khi điện lưới bị gián đoạn. Đây cũng là một phần tử bắt buộc trong hệ thống nguồn của server room, datacenter vì dù ở bất kỳ cấp độ nào server room, datacenter cũng không được phép gián đoạn nguồn điện trong thời gian dài.

ATS (Automatic Transfer Switch): thiết bị tự động chuyển đổi giữa nguồn điện lưới sang nguồn điện từ máy phát điện khi có sự gián đoạn điện lưới và chuyển ngược về nguồn điện lưới khi nguồn được cấp trở lại. Trên thực tế một số server room, datacenter cấp độ thấp cũng không cần thiết bị này, khi đó cần có sự can thiệp của con người trong quá trình chuyển đổi qua lại giữa các nguồn điện.

Tủ phân phối chính hay bảng cấp điện chính: Tùy quy mô có thể bao gồm các MCB, MCCB cho từng nhánh điện đến thiết bị làm mát, chiếu sáng, UPS...

Hệ thống UPS: cung cấp nguồn điện liên tục và ổn định cho hệ thống thiết bị IT như máy chủ, router, switch, thiết bị chuyển mạch, truyền dẫn....

Hệ thống chuyển đổi STS: chuyển đổi tốc độ cao giữa các nguồn điện dự phòng, thường chỉ xuất hiện trong các server room, datacenter cao cấp.

Trong thực tế, đối với những server room theo tiêu chuẩn tự tui phần nguồn nó có những gì và làm như thế nào ??

1. Tính công suất: Cứ tính tổng công xuất của tất cả các thiết bị cộng lại * 40% dự phòng là đủ. Từ đó ta đưa ra được là dùng dây bao nhiêu, CB tổng bao nhiêu là đủ. Dùng 1 pha ha 3 pha

2. Cũng từ công xuất tiêu thụ của hệ thống ta tính được công xuất của UPS

3. Khi thiết kế nên để ý phần tủ rack, cái nào chứa server, cái nào chứa network EQ để bố trí cái PSU và CB cho hợp lý.

Nguyên tắc chung như sau: MSB tòa nhà - MSB Server room - UPS - MSB cho từng tủ hay từng PSU

** Chú ý: Nên lấy nguồn từ sau MSB tòa nhà để không bị ảnh hưởng trong quá trình hoạt động. Mình VD: server room nằm ở tầng 2 lấy nguồn sau MSB của tầng 2 trong trường hợp có sự cố ở tầng 2 phía M&E sẽ tắt MSB vậy là server room của chúng ta tèo vì cúp điện.

Trong trường hợp các bạn thiết kế theo kiểu phân tán mỗi tầng đặt 1 tủ thì chú ý là kéo cho nó riêng mỗ tủ 1 đường nguồn lấy sau UPS và có những MSB đóng ngắt cho nó an toàn.

UPS (Uninterruptible Power Supply)

Về UPS, một số bạn cứ nghĩ là UPS duy trì hoạt động của hệ thống khi mất điện, điều này đúng nhưng chưa đủ. Mục đích của UPS là cung cấp nguồn trong 1 thời gian ngắn chờ cho cái máy phát điện nó chạy thôi. Những tính năng khác mời các bạn theo dõi về các dạng UPS để hiểu thêm về nó.

Đối với những datacenter lớn, thường có những kiểu thiết kế UPS như sau:

1. Gi?i pháp UPS kết nối Parallel hoạt động dự phòng ở chế độ N+1, các bạn hiểu nôm na nó như thế này, trong chế độ N+1 luôn luôn dư ra 1 cái khi 1 trong những UPS đang hoạt động bị sự cố thì cái kia ngay lập tức nhảy vào thế chỗ cho cái bị sự cố. Mọi chuyện hoàn toàn tự động, làm thế nào thì aloo cho mấy chú chuyên bán UPS có giải pháp ngay, mình chẳng cần quan tâm

2. Giải pháp UPS On_demand (Dạng module cần đến đâu đầu tư đến đó), với thiết kế dạng module cho từng module nguồn và battery nên có thế nâng cấp hay thay thế ngay khi có sự cố và nó cũng hoạt động theo cơ chế N+1 nhưng nhỏ hơn

it.thuongnguyen
05-10-2012, 11:37
Các dạng UPS và điểm khác biệt của nó

Ở đây tôi không nói đến các hãng sản xuất vì nhiều lắm, mỗi hãng có những ưu điểm riêng mình không bàn đến. Tùy sở thích của các bác mà mua.

UPS (Uninterruptible Power Supply) là một thiết bị có thể cung cấp tạm thời điện năng nhằm duy trì sự hoạt động của thiết bị sử dụng điện lưới gặp sự cố (mất điện, sụt giảm điện áp quá thấp, sự cố khác...) trong một khoảng thời gian với công suất giới hạn theo khả năng của nó.

UPS thường được gọi là: Cái lưu điện hay bộ lưu điện, cục lưu điện...Các loại UPS thông dụng hiện nay thường bao gồm ba loại chính theo nguyên lý làm việc của chúng:

UPS offline, UPS offline và UPS online interactive.

Nếu lựa chọn UPS thì chọn loại nào? giá tiền ra sao và sự ảnh hưởng của từng loại UPS đối với thiết bị sử dụng như thế nào...

NGUYÊN LÝ HOẠT ĐỘNG

Trước hết xin giải thích thêm một chút về năng lượng tích tụ trong UPS như thế nào? Rất nhiều người đã biết rằng bên trong UPS sẽ có các ắc quy để tích điện, có lẽ chỉ cần biết đến thế là biết được nguyên lý làm việc của chúng một cách sơ đẳng nhất: Chuyển điện từ ắc quy sang thành nguồn điện dân dụng của địa phương.

Tích trữ năng lượng bằng ắc quy

Như vậy thì bên trong mỗi UPS đều có ắc quy (cái nhỏ thôi cái to nó không co đâu). Tôi luôn nhìn thấy hai chiếc để có một điện áp khoảng 24Vdc, nhưng một bạn đã comment rằng có loại UPS chỉ sử dụng một chiếc ắc quy 12V mà thôi.

Như vậy thì có thể loại UPS này công suất khá thấp hoặc là chúng có loại ắc quy rất tốt để cho phép xuất một dòng điện lớn, bởi vì công suất phát của ắc quy tính theo P(công suất, W) = U(điện áp, V).I(dòng điện, A)

Ví dụ như để phát khoảng 200W, với 1 ắc quy 12V phải xuất một dòng điện khoảng 16,6A, nhưng với 2 ắc quy 12V nối tiếp thì chỉ phải xuất ra 8,3A thôi.

Để xuất một dòng lớn như 16,6A thì ắc quy phải có các bản cực to và điện môi tốt, các mạch điện lại bị gây tổn thất nhiệt cao nên hiệu suất giảm. Do đó mà tôi nghĩ rằng ai đó thiết kế ra loại UPS dùng một ắc quy có lẽ là ... chưa được chuyên nghiệp cho lắm.

Biến đổi thành dòng điện xoay chiều

Và ắc quy cung cấp điện một chiều thì làm thế nào để có thể biến chúng thành xoay chiều ? Điều này thì chắc chỉ có ai học điện tử mới hiểu rõ được, nhưng bạn có thể hiểu loáng thoáng rằng có một mạch điện nào dó biến đổi điện một chiều thành các giao động xoay chiều, và các giao động này với tần số và điện áp phù hợp với nơi mà bạn sử dụng - tức là 220Vac 50Hz hoặc 110Vac 60Hz.

Có phải tất cả các UPS đều có các nguyên lý hoạt động giống nhau ?

Không, chúng có các loại sơ đồ nguyên lý khác nhau, chính do đó mà có đến ba loại UPS được phân loại như sau:

UPS loại phổ thông nhất được phân thành các dòng sản phẩm chính về công nghệ như sau: UPS Offline (đơn thuần), UPS Offline với công nghệ Line-interactive, UPS Online. (còn hai loại khác nữa là: UPS tĩnh, UPS quay thì có lẽ rằng chúng không sử dụng các nguyên lý như loại UPS phổ thông dùng trong dân dụng nên ít được nhắc tới, bản thân tôi cũng chưa biết nó là cái gì)

UPS offline

Được sử dụng nhiều nhất hiện nay có lẽ là các loại UPS offline bởi giá thành của chúng rẻ hơn nhiều so với các loại UPS cùng loại.

Nếu bạn đang sử dụng UPS thì nhiều khả năng thuộc loại này, có phải rằng tôi đã chủ quan khi nói điều đó? bởi vì tôi biết rằng người đọc blog ở Việt Nam (thông qua sự thống kê của geovisit mà tôi đang dùng trên blog) thường chưa hiểu rõ về các UPS và các loại của chúng nên lựa chọn theo cảm tính và giá rẻ là phần nhiều.

Dưới đây là sơ đồ cơ bản về nguyên lý làm việc của UPS offline, loại thông dụng nhất trên thị trường hiện nay:

https://lh4.googleusercontent.com/-U5xmPLslEtw/UG5loInRciI/AAAAAAAAAHc/cYIqN74aEGQ/s442/Off_line_ups.jpg

Theo sơ đồ này, ta nhận thấy rằng phương pháp làm việc của nó như sau:

Nguồn điện lưới đầu vào thông qua một công tắc ngắt mạch (được ghi chữ "bypass" trong sơ đồ) đến với đường đầu ra.

Nguồn điện từ pin được chuyển đổi thành điện áp xoay chiều theo tham số phù hợp với nguồn điện địa phương.

Khi mất điện lưới, hệ thống ắc quy cung cấp cho mạch điện giao động để chuyển thành dòng điện xoay chiều tiếp tục cung cấp cho thiết bị tiêu thụ.

Nhìn qua sơ đồ này chúng ta dễ nhận ra nhược điểm của loại UPS offline: Thời gian chuyển mạch từ khi sự cố điện lưới cho đến khi nguồn pin cung cấp cho thiết bị tiêu thụ.

Hiểu một cách đơn giản thế này: Công tắc ngắt điện khỏi nguồn lưới để chuyển sang dùng điện từ pin phải đảm bảo khi ngắt hoàn toàn ra khỏi lưới điện mới được phép cung cấp điện từ bộ inverter (trên thực tế thì các UPS này có đến hai "công tắc chuyển mạch" kiểu như trên dược điều khiển cùng lúc - trong kỹ thuật thường gọi là "rơ le") bởi nếu không dòng điện cung cấp từ pin sẽ phải cấp cho cả lưới điện địa phương - và cũng như máy phát điện, hệ thống sẽ hư hỏng vì quá tải.

Tất nhiên là sơ đồ trên chỉ cho bạn thấy một cách nhìn tổng thể, sơ đẳng nhất, ở dưới đây là một sơ đồ có vẻ như sẽ tốt hơn cho bạn hình dung về quá trình làm việc của UPS offline. Tại sao tôi không sử dụng sơ đồ này ngay nhỉ ? Ồ, thật đơn giản rằng nếu không có sơ đồ trên thì có lẽ rằng sơ đồ phía dưới đây sẽ trở lên khó hiểu hơn đối với bạn - nhất là những người ít khi nhìn vào các mạch điện hoặc là có am hiểu nhiều về điện-điện tử.

http://i253.photobucket.com/albums/hh71/thuongnh/standby_ups_diagram_zpsa8986c13.png

Ở hình này thể hiện hai trạng thái làm việc của một UPS offline thông thường (không có công nghệ Line interactive):

Ở trạng thái lưới điện ổn định thì nguồn tiêu thụ sử dụng điện trực tiếp của lưới điện. UPS lúc này chỉ sử dụng một bộ nạp (charger) để nạp điện một cách tự động cho ắc quy mà thôi.

Khi điện áp lưới điện không đảm bảo (quá cao, quá thấp) hoặc mất điện thì lúc này mạch điện chuyển sang dùng điện cung cấp ra từ ắc quy và bộ inverter.

Qua nguyên lý được phân tích như trên thì ta thấy rằng thời gian cung cấp điện cho thiết bị tiêu thụ vì thế mà bị gián đoạn. Sự gián đoạn này gây ra việc cung cấp nguồn điện không ổn định tại phía các thiết bị tiêu thụ: Một số máy tính bị tắt do nguồn máy tính (PSU) thuộc loại chất lượng thường hoặc công suất thấp, có khả năng tích điện tại tụ đầu nguồn đầu vào thấp so với nhu cầu công suất của các linh kiện trên máy tính, nên thời gian chuyển mạch của UPS đã gây dừng sự hoạt động của PSU. Rất nhiều người đã gặp điều này nhưng lại đổ lỗi cho chiếc UPS của họ - và họ có thể mang đi bảo hành rồi lại bị trả lại bởi vì kỹ thuật viên nơi bán đã kiểm tra và thấy chúng chẳng bị làm sao cả^^.

Cũng qua sơ đồ, ta thấy rằng UPS offline không có công dụng ổn áp khi chúng sử dụng điện lưới bình thường - bởi đơn giản khi không có sự cố về lưới điện thì các thiết bị phía sau UPS đơn thuần được nối trực tiếp với lưới điện thông qua rơ le (phần bypass trong sơ đồ trên). Có vẻ như nhiều người cho rằng UPS luôn tích hợp sẵn công dụng ổn áp phải không? Đúng là nó có tính năng ổn áp, nhưng không phải loại UPS offline này - mà là loại UPS online mà bạn sẽ xem ở phần dưới.

it.thuongnguyen
05-10-2012, 12:05
UPS offline với công nghệ Line interactive

Khắc phục nhược điểm của loại UPS offline thông thường là loại UPS offline công nghệ Line interactive. Do sự tích cực hơn trong nguyên lý hoạt động nên chúng lại có giá thành cao hơn so với loại UPS offline thông thường

http://i253.photobucket.com/albums/hh71/thuongnh/Line_interactive_ups_zps6617e73e.png

Bạn có thấy rằng sơ đồ mạch của loại UPS này có vẻ gì đó giống như sơ đồ mạch của loại UPS offline đơn thuần phía bên trên hay không ? Chắc là bạn cũng nhận thấy điều này: Phần nhánh ắc quy và inverter không thay đổi, chỉ có phía bên nhánh cung cấp điện cho thiết bị tiêu thụ điện lẽ ra được nối trực tiếp thì lại được nối loằng ngoằng qua những ký hiệu gì đó khó hiểu.

Tôi nhìn vào đó cũng chẳng biết gì - bởi vì tôi không được học chính thống về điện tử, và do đó tôi đoán bạn cũng như vậy^^.

Một lát nữa thôi, bạn sẽ nhìn xuống phía dưới và nhìn thấy chúng thật đơn giản: đó là một biến áp. Như vậy thì UPS offline công nghệ line interactive hơn gì so với loại UPS offline thông thường?

Tôi nghĩ chính là ở điểm có cái biến áp đó. Biến áp này về bản chất thì giống như các loại biến áp tự ngẫu trước đây mà nhiều người dân Việt Nam đã từng sử dụng (thời điểm trước khi xuất hiện các ổn áp nội địa hiệu LiOA chiếm lĩnh thị trường)

Có nghĩa là nếu điện áp của lưới điện thấp hay cao thì chúng ta phải chạy đến chỗ cái biến áp tự ngẫu đó để xoay xoay, vặn vặn nó. Ở đây cũng vậy, mặc dù chúng không được như chiếc "ổn áp" để có thể tự động xoay mà lại sử dụng các nấc chuyển mạch để thay đổi mức điện áp của nó nhưng cũng có các cách để tự động thực hiện việc đó.

Và bây giờ, xin xem hình dưới này, tôi nghĩ rằng nó đã bị chia thành bốn hình cho các trường hợp khác nhau nên để dành cho nó về việc phân tích nguyên lý làm việc một cách sâu hơn chút nữa.

http://i253.photobucket.com/albums/hh71/thuongnh/Line-Interactive-ups-diagram_zps6ce3bb1d.png

Và giờ đây thì chắc bạn hiểu được rằng điện áp xoay chiều mà ta thường dùng có thể thay đổi bởi biến áp bằng cách thay đổi số vòng dây của cuộn sơ cấp hoặc thứ cấp. Các biến áp tự ngẫu thường là thay đổi số vòng của cuộn dây đầu vào - tức là cuộn sơ cấp - để có thể thay đổi điện áp đầu ra.

Ở đây, theo hình ngay phía trên, ta dễ nhận thấy rằng nhánh cung cấp điện trực tiếp cho thiết bị tiêu thụ được thông qua một biến áp tự ngẫu (sơ đồ trên vẽ thì không chính xác là biến áp tự ngẫu đâu, nhưng ta nên hiểu là biến áp tự ngẫu). Ở đây có các trường hợp sau:

- Trong trường hợp điện áp cấp vào UPS bình thường, có nghĩa là chúng xấp xỉ thông số đầu ra ở lưới điện địa phương của bạn thì mạch UPS hoạt động như khung hình phía trên-bên trái. có nghĩa rằng biến áp tự ngẫu lúc này có số vòng dây sơ cấp bằng thứ cấp, do đó không có sự can thiệp nào vào điện áp đầu ra - và UPS hoạt động giống như loại UPS offline thông thường.

- Trong trường hợp điện áp của lưới thấp hơn so với điện áp chuẩn, biến áp tự ngẫu sẽ chuyển mạch sang một nấc khác, làm cho điện áp đầu ra đảm bảo đúng thông số yêu cầu. Trong trường hợp điện áp của lưới điện cao hơn so với thông số chuẩn thì trường hợp này cũng vậy.

- Trong trường hợp mất điện lưới UPS offline công nghệ Line interactive sẽ chuyển các mạch giống như loại UPS thông thường: tức là chúng ngắt nhánh đi qua biến áp tự ngẫu và chuyển sang sử dụng nhánh ắc quy với inverter.

Bạn thấy chúng có ổn định được điện áp hay không? Rõ ràng rằng loại UPS offline theo công nghệ line interactive này tiến bộ hơn loại UPS offline truyền thống: Chúng có thể ổn định điện áp so với việc không có một chút chức năng ổn áp nào của loại offline truyền thống như đã nói ở trên.

Mở rộng ra một chút với người am hiểu về điện-điện tử bạn có thể hiểu rằng chiếc biến áp trong sơ đồ trên hoàn toàn thuộc loại biến áp tự ngẫu thông thường, có nghĩa là chúng chỉ có một cuộn dây và các đầu ra khác nhau. Vậy thì chúng chuyển mạch bằng cách nào? Tất nhiên là qua các rơ-le rồi.

Khi tôi mở một chiếc UPS công nghệ Line-Interactive thì nhận thấy chúng có khoảng 5 chiếc rơ-le, trong đó một chiếc lớn nhất nằm ở phía sau máy, bốn chiếc còn lại trên mạch in. Rơ le này do các mạch điện của UPS điều khiển chúng. Nếu bạn có một chiếc UPS loại này thì bạn dễ nhận thấy rằng chúng có thể phát ra các tiếng kêu lách tách nhỏ do sự làm việc của các rơle đó.

it.thuongnguyen
05-10-2012, 12:07
UPS online

Khắc phục hoàn toàn các nhược điểm trên là loại UPS online, chính vì vậy mà loại UPS này thường có giá bán cao nhất so với các loại trên.

Dưới đây là sơ đồ nguyên lý làm việc đơn giản của nó:

http://i253.photobucket.com/albums/hh71/thuongnh/Double-conversion-svg_zps6f67bfde.png

Ở đây, chúng ta thấy rằng viếc cấp điện cho thiết bị tiêu thụ là hoàn toàn liên tục khi có sự cố về lưới điện. Hãy thử phân tích sơ đồ dưới góc độ người sử dụng như sau:

Nguồn điện lưới lúc này không cung cấp điện trực tiếp cho các thiết bị, mà chúng được biến đổi thành dòng điện một chiều tương ứng với điện áp của ắc quy. Ở đây trong mạch đã thể hiện sự cung cấp điện từ ắc quy và chính từ lưới điện đến bộ inverter để biến đổi thành điện áp đầu ra phù hợp với thiết bị sử dụng.

Như vậy, có thể thấy rằng trong bất kỳ sự cố nào về lưới điện thì UPS online cũng có thể cung cấp điện cho thiết bị sử dụng mà không có một thời gian trễ nào. Điều này làm cho thiết bị sử dụng rất an toàn, và ổn định.

UPS online sẽ luôn luôn ổn định điện áp đầu ra bởi cũng theo mạch thì điện áp đầu vào lúc này được biến đổi xuống mức điện áp ắc quy và chúng có công dụng như một ắc quy có dung lượng lớn vô cùng (nếu không bị sự cố lưới điện), mạch inverter[3] sẽ đóng vai trò một bộ ổn định điện áp. Vì vậy chỉ với các loại UPS online mới có công dụng ổn áp một cách triệt để.

Nếu như vậy, bạn nhận thấy có cần thiết sử dụng một chiếc UPS cho các máy tính xách tay hay không? Tôi nghĩa là không cần thiết, bởi có vẻ như mỗi chiếc máy tính xách tay có pin còn làm việc tốt thì phần cấp điện chính cho bo mạch chủ và các thiết bị khác làm việc sẽ luôn giống như một chiếc UPS online.

it.thuongnguyen
05-10-2012, 12:09
CÁC TÍNH NĂNG KHÁC CỦA UPS

UPS có thể có một số tính năng phụ như sau để giúp người sử dụng có thể an toàn hơn hoặc quản lý điện năng tốt hơn với máy tính.

Chống sét cho đường dây điện thoại hoặc đường Internet.

Bạn có thể nhìn thấy hình minh hoạ đầu tiên của một chiếc UPS có tính năng này. Ở đây bạn nhìn thấy có hai cổng vào/ra để bảo vệ chống sét gây hư hại đến máy tính của bạn: Việc sử dụng đơn giản nhất là thay vì cắm đầu kết nối vào máy tính của bạn (từ ổ cắm trên tường trong các doanh nghiệp hoặc từ modem của bạn đến) thì bạn cắm vào UPS và đầu ra theo cổng phù hợp của UPS này bạn nối vào máy tính.

Tương tác với máy tính thông qua kết nối

Đây là một tính năng cao cấp của các loại UPS cao cấp, không phải mọi loại UPS đều có tính năng này. Tính năng này cho phép sự tương tác giữa UPS với máy tính của bạn - mà trực tiếp là với hệ điều hành bạn đang sử dụng.

Bạn biết rằng mỗi một UPS chỉ có thể cung cấp năng lượng trong một thời gian nhất định mà thôi, do đó sẽ có lúc mà UPS này sẽ hoàn toàn không thể cung cấp điện năng được nữa. Tất nhiên, cho dù chúng cung cấp khoảng thêm 5 phút, cho đến khoảng 20 phút nữa thì ắc quy của nó cũng sẽ hết điện.

Như vậy thì nếu bạn không để ý, khi UPS hết điện sẽ làm cho máy tính của bạn bị ngắt điện và có khả năng là bạn bị mất dữ liệu thành quả của bạn khi làm việc. Có thể rằng điều này sẽ không xảy ra khi mà bạn đang ngồi cạnh máy tính và UPS sẽ báo động bằng còi khi trạng thái lưới điện bị mất để bạn có thể ghi lại thành quả và tắt máy tính an toàn. Nhưng đúng là có những lúc bạn không có ở đó thì máy tính sẽ không tự động được shutdown an toàn.

Nếu như UPS được nói chuyện với máy tính thì lại khác: Hệ điều hành biết trước rằng UPS sắp sửa ngừng cung cấp điện cho nó và lúc này hệ điều hành sẽ tự ra lệnh shutdown máy tính một cách an toàn sau khi tự động ghi lại toàn bộ thành quả đang làm việc.

Bạn biết rằng: Nguồn điện lưới thì không thể phát tín hiệu được cho máy tính biết được rằng nó sắp bị sự cố, và tương tự như vậy thì UPS cũng thế, bởi vì chúng không khác gì nguồn điện lưới: Cũng ba chân cắm vào nguồn máy tính. Vậy thì UPS phải có một cách khác để có thể giao tiếp với máy tính? Bạn có nhìn thấy hình ảnh rất nhiều ý nghĩa ở phía trên về mặt sau của một chiếc UPS hay không (tại sao tôi không chọn một hình ảnh mặt trước UPS một cách đẹp đẽ nhỉ^^), ở đó bạn sẽ thấy một cổng giao tiếp mà người sử dụng quen gọi là cổng COM để có thể nối với máy tính. Hiện nay thì các cổng chập như vậy đã dần biết mất khỏi cấu trúc máy tính cá nhân, chúng được thay thế bằng các cổng USB.

Qua cổng giao tiếp với máy tính (COM, USB...) tất nhiên là máy tính chẳng thể hiểu được rằng UPS định làm gì cả, lại phải có các phần mềm, các trình điều khiển đi kèm (nếu cần) để hệ điều hành có thể biết được UPS có đã đến thời gian sắp cắt điện để có thể thực hiện các công việc của nó. Các phần mềm này sẽ có các hướng dẫn đi kèm, nếu bạn có nó, bạn sẽ tự cài đặt, thiết lập một cách rất nhanh thôi.

Thông báo trạng thái


Không phải loại UPS nào cũng có các hình thức thông báo trạng thái làm việc của chúng, tuy nhiên những loại UPS có chất lượng cao thì thường có tối thiểu là các đèn LED để thông báo trạng thái làm việc, trạng thái tích điện của ắc quy...

Cá biệt, có các loại UPS có một màn hình tinh thể lỏng nhỏ để hiển thị các thông số làm việc của chúng.

Tôi nghĩ rằng tất cả các loại UPS có tính năng cao cấp này thì đều thuộc loại Offline với công nghệ Line-Interactive hoặc loại Online.

it.thuongnguyen
05-10-2012, 12:11
KHẮC PHỤC UPS XUỐNG CẤP

(Lưu ý: Đây là các kinh nghiệm của tôi, chúng được bản thân tôi kiểm chứng mà tôi chưa gặp một tài liệu nào nói đến điều này)

Tôi có một may mắn trong thời gian trước đây đã được sử dụng rất nhiều các loại UPS khác nhau được sản xuất tại Châu Âu cũng như ở Việt Nam. Ở đây có rất nhiều UPS với các công nghệ khác nhau: từ Offline đơn thuần, Offline sử dụng công nghệ Interactive cho đến loại online.

Tất cả các ổn áp tôi sử dụng đều sử dụng hai ắc quy như đã nói ở trên, chúng mắc nối tiếp nhau để cung cấp một nguồn điện một chiều 24 Vdc cho khối inverter cung cấp điện đầu ra.

Tôi nhận thấy rằng các UPS thường bị hư hỏng sau khoảng hai năm làm việc, chúng mất tác dụng lưu điện hoặc hoàn toàn không làm việc được nữa. Đối với các UPS được sản xuất ở khu vực Châu Á với tiêu chuẩn chất lượng phù hợp với địa phương thì tôi không muốn so sánh, nhưng với các UPS này đã hợp chuẩn Châu Âu nên việc hư hỏng hàng loạt khiến cho tôi thắc mắc, muốn tìm hiểu nó.

Khi tôi tháo các UPS này ra kiểm tra thì đều nhận thấy rằng các ắc quy bị khô hoặc thiếu dung dịch. Hầu hết chúng đều cạn đến mức tối đa (cạn đến đáy bình). Việc một ắc quy bị thiếu hụt dung dịch thì chúng không thể tích điện được nữa. Điều này có ngạc nhiên không đối với bạn? Cái sự thiếu nước đó? Chắc là có, bởi vì trước đây tôi đã nghĩ rằng chúng là các loại ắc quy khô - có nghĩa là các loại ắc quy không giống như thông thường. Chỉ khi tháo ra vài chiếc thì tôi mới biết rằng chẳng phải loại ắc quy khô gì cả mà người ta quen gọi chúng cho một loại ắc quy không cần bảo dưỡng mà thôi. Bạn vẫn còn nghi ngờ về điều này? Đơn giản thôi, hãy đi mua một chiếc "ắc quy khô" dành cho xe máy, tháo chúng ra - ở bên trong có nhiều dung dịch đấy.

Để thử nghiệm và sửa chữa một cách tạm thời, tôi đã dùng nước được điều chế để chế bổ sung cho các ắc quy xe máy được bán ở hiệu sửa xe thông thường để đổ vào chúng. Thực ra cách làm này có một cách gì đó "phản khoa học", nhưng thời điểm đó tôi đã làm vì như vậy để cứu vớt những chiếc UPS đã được liệt vào dạng hư hỏng và xếp vào kho đồ cũ từ lâu. Phản khoa học ở đây là việc không tìm hiểu kỹ loại ắc quy đó dùng dung dịch gì, chế độ bảo dưỡng bao nhiêu, cứ theo cảm tính của mình mà đổ dung dịch để sửa chữa.

Bạn có thể làm gì? làm thế nào?

Như vậy thì bạn có thể bảo dưỡng thế nào đối với các ắc quy bên trong UPS của bạn? Tôi nghĩ rằng sau khi dùng khoảng một năm - cũng là lúc mà thời hạn UPS đã hết hạn bảo hành thì bạn nên tháo chúng ra để kiểm tra lượng dung dịch bên trong các ắc quy đó.

Các cụm thiết bị bên trong UPS thường là lắp ghép theo các khối, nếu khéo léo tháo được vỏ của UPS ra thì các thiết bị bên trong rất dễ dàng tháo rời thành từng phần để có thể tháo các ắc quy ra ngoài.

Sau khi tháo được hai ắc quy ra ngoài, cố gắng lắc, soi dưới ánh đèn, ... để tìm hiểu xem chúng còn lại lượng dung dịch bao nhiêu ở bên trong. Nếu thấy thiếu, bạn có thể tìm cách tháo phần nắp bảo vệ của các ắc quy đó. Thực sự thì việc tháo các ắc quy này rất khó khăn đối với những người nóng tính, sốt ruột bởi chúng được thiết kế kiểu như dùng một lần rồi bỏ nên gắn rất chắc chắn (một phần của sự chắc chắn này là chống bay hơi hoặc làm rơi rớt dung dịch trong ắc quy ra ngoài).

Một cách khoa học, hãy cố gắng tìm hiểu dung dịch gì nếu có thể. Còn nếu không, bạn có thể đổ nước cất hoặc dung dịch axít loãng thường dùng cho các ắc quy thông thường được bán ngoài thị trường.

Lúc này là lúc mà bạn cần gắn các khối trong UPS lại như cũ để có thể cho nó làm việc được. Chú ý rằng lúc này chưa phải là lúc gắn tất cả các thiết bị vào trong vỏ của UPS, mà bạn nên để chúng ra ngoài để có thể hoạt động bình thường như chúng được gắn vào trong vỏ như thiết kế. Thực hiện điều này bạn phải cố gắng lựa cách sắp xếp bởi vì các dây dẫn được gắn có vẻ ngắn chứ không được như ý muốn của chúng ta. Lưu ý rằng các ắc quy lúc này không nên nút chặt các nút của nó và chiều ắc quy phải đặt đứng lên theo chiều nắp ở phía trên.

Sau khi gắn lại, bạn hãy cắm điện để UPS hoạt động ở chế độ không tải, hãy quan sát trạng thái làm việc của nó thông qua các đèn, đồng hồ hoặc màn hình của UPS (tuỳ thuộc từng loại khác nhau) để xem chúng có hoạt động như bình thường không. Nếu có bất kỳ sự khác thường nào thì bạn cần rút điện nguồn ngay để kiểm tra lại sự lắp ghép các khối của mình, chiều cực (âm/dương) của ắc quy...

Sau khi nạp điện một thời gian, bạn chuyển sang trạng thái làm việc có tải, thử nghiệm sử dụng mất nguồn điện lưới (không cung cấp điện vào UPS) để xem các kết nối của bạn đã đảm bảo chắc chắn hay chưa, các ắc quy mới thêm dung dịch của bạn có đảm bảo hoạt động tốt hay không.

Sau quá trình này thì bạn mới ghép chúng vào vỏ, kiểm tra vài lần rồi mới sử dụng như chưa từng tháo ra.

Chú ý quan trọng: Sau khi cạy tháo nắp của ắc quy, bạn chú ý đến khả năng kín khít của nó sẽ không còn được như trước đây, do đó cần chú ý đến vị trí lắp đặt các ắc quy của UPS. Hãy đặt vị trí của UPS sao cho chiều đứng của ắc quy luôn hướng lên phía trên. Tôi có đã thấy một số UPS được thiết kế đặt các ắc quy nằm ngang trong khi làm việc - đây là một thiết kế mà nhà sản xuất đã quá tin tưởng về việc sử dụng các ắc quy kín khít để không bị thất thoát dung dịch cho một quá trình làm việc lâu dài.

it.thuongnguyen
05-10-2012, 12:21
TÚM LẠI

Nếu các bạn đã đọc hết những phần trên kia của tôi thì tôi chắc rằng bác bạn hiểu và biết cách lựa chọn UPS thế nào cho hệ thống của mình. Nhưng đối với một số bạn lười đọc mà muốn ăn ngay tôi xin tóm lại thế này cho nó dễ nhớ.

UPS (Uninterruptible Power Supply) là một thiết bị có thể cung cấp tạm thời điện năng nhằm duy trì sự hoạt động của thiết bị sử dụng điện lưới gặp sự cố (mất điện, sụt giảm điện áp quá thấp, sự cố khác...) trong một khoảng thời gian với công suất giới hạn theo khả năng của nó. Ở Việt Nam, UPS thường quen được gọi là: Cái lưu điện hay bộ lưu điện, cục lưu điện...

Có 3 dạng UPS: UPS Offline, UPS Offline Line-interactive, UPS Online

1. UPS Offline: Cắm điện vào trong trường hợp bình thường thì nó by pass out luôn ra cho các thiết bị. Mất điện lấy nguồn DC từ battery chuyển qua AC (220V) cho các bác dùng. Hết chuyện

2. UPS Offline Line-interactive: Giống Offline nhưng có thêm cái ổn áp

3. Online: Điện cấp vào sạc battery, nguồn từ battery qua inveter thành nguồn AC để sử dụng.

Các chức năng cao cấp thì chỉ có ở các UPS online thôi.

... Em xin dừng phần này tại đây ...

Nhiều chữ quá các bác đọc chán

Sir.KT-ed
05-10-2012, 19:05
để dành đọc dần

it.thuongnguyen
05-10-2012, 21:36
Phần máy lạnh cho phòng server

Máy lạnh cho phòng server là một trong những vấn đề mà người ta thường không nhận thấy cho đến khi đã quá muộn. Ngoài ra, việc trang bị máy lạnh cũng có nghĩa là phải tiêu tốn rất nhiều điện năng, tức là nảy sinh vấn đề về chi phí.

Đối với con người có thể chúng ta cần máy lạnh chừng > 7h/ ngày thường là từ 7 giờ sáng tới 7 giờ tối. Tuy nhiên, vẫn còn nhu cầu máy lạnh cho các phòng server, những phòng này không chỉ cần điều hòa không khí 7 ngày mỗi tuần, mà là 24/7/365 do luôn có phát sinh lượng nhiệt lớn.

Do phòng server là mạch máu của mỗi công ty, nên nếu xảy ra sự cố thì chi phí hỏng hóc có thể là rất cao, không chỉ về việc thay thế thiết bị phần cứng mà cả về năng suất làm việc của công ty. Máy móc giờ đây ngày càng hoạt động nhanh hơn, cũng tức là chúng sẽ tỏa nhiệt nhiều hơn.

Nói ra thì nó lằng nhằng lắm.

Em có cái công thức tính toán hệ thống máy lạnh cho phòng server hay datacenter bác tham khảo:

Author: Denis Laverty
Source: MacTech Magazine

Diện tích sàn phòng (1) = Dài (m) x Rộng (m) x 337
Kích cỡ và vị trí cửa sổ (*) (2)
Cửa sổ hướng tây
Có rèm = Dài (m) x Rộng (m) x 870
Không rèm = Dài (m) x Rộng (m) x 870 x 1,5
Cửa sổ hướng bắc
Có rèm = Dài (m) x Rộng (m) x 165
Không rèm = Dài (m) x Rộng (m) x 165 x 1,5
Số người (3)= Số người x 400
Thiết bị (4) = Tổng công suất server, switch, router (W) x 3,5
Đèn điện (5) = Tổng công suất các bóng đèn (W) x 4,25

Tổng BTU = BTU (1) + BTU (2) + BTU (3) + BTU (4) + BTU (5)

* Nếu phòng không có cửa sổ thì bỏ qua phần này

Còn rất nhiều vấn đề để bàn luận ở chỗ này nhưng em không bàn đến vì thực ra em không rõ lắm nói bậy hay bị chửi he he he. Bác nào chuyên gia vào tư vấn cái phần này đi ạ.

Hệ thống làm mát phòng server theo tiêu chuẩn con nhà nghèo

Để xây dựng một server room hay datacenter dù là để phục vụ cho mục đích sử dụng nội bộ hay thương mại chúng ta đều phải tính toán chi phí đầu tư ban đầu và chi phí vận hành trong suốt thời gian sống của nó.

Các hãng sản xuất thiết bị lạnh chính xác cho Data Center hay server room đưa ra đủ lý do để thuyết phục người sử dụng dùng sản phẩm lạnh chính xác vì một số ưu điểm sau:

- Kiểm soát được nhiệt độ và độ ẩm chính xác.
- Công suất cao,
- Hoạt động liên tục
- ...

Dĩ nhiên bên cạnh đó, một số nhược điểm (trong môi trường CNTT & Viễn Thông) của hệ thống làm mát thông thường cũng được nêu ra để tăng tính thuyết phục, ví dụ: máy lạnh thông thường chỉ dùng cho con người, hoạt động vài giờ mỗi ngày,không kiểm soát được nhiệt độ, độ ẩm,...

Tuy nhiên ngoài các yếu tố trên không thấy các nhà sản xuất đề cập đến phần chi phí đầu tư

Tạm lấy một ví dụ để mọi người so sánh :

Máy lạnh LG LP-X1008FA0 có công suất làm lạnh 93.000 BTU giá thị trường khoảng 3.600 USD.

Máy lạnh Carrier 38/42SD6C có công suất làm lạnh 47.200 BTU giá khoảng 1.600 USD

So với máy lạnh chính xác của APC dòng ARCP 102 có công suất 29KW nghĩa là khoảng 99.000 BTU có giá khoảng ....32.000 USD thì bạn sẽ thấy chi phí như thế nào. Hu hu

Dĩ nhiên tùy vào túi tiền, tùy vào chất lượng mà chúng ta mong muốn thì chúng ta sẽ có lựa chọn phù hợp, ý kiến của tôi chỉ để tham khảo thêm mà thôi.

Tôi đã được dùng qua 2 loại (Máy lạnh dân dụng và máy lạnh chính xác), về mặt cá nhân tôi đưa ra một số ý kiến như thế này cho mọi người dễ hình dung:

Nói về tính chuyên nghiệp tất nhiên máy lạnh chính xác chuyên nghiệp hơn rất nhiều, như để trang bị được nó cần khá nhiều điều kiện mà điều kiện quan trọng nhất là chi phí. Kể cả chi phí đầu tư lẫn chi phí hoạt động. Với những server room trung bình có khoảng 5 rack theo tôi không cần thiết đầu tư máy lạnh chính xác. Chơi đồ dân dụng được rồi, Lắp cho nó 2 hoặc 3 cái vẫn rẻ hơn mua máy lạnh chính xác.

Cho nó chạy luân phiên nhau cái chạy cái nghỉ, các bác chú ý một chút là không nên để mấy cái tủ dưới máy lạnh, đặc biệt không chơi máy âm trần, vì cái máy của nợ này không vệ sinh đều đặn cho nó lâu lâu nó chảy nước như mưa, tôi bị rồi tôi biết.

Còn nếu có tiền thì máy lạnh chính xác là lựa chọn tốt nhất, hãng thì tùy, APC, Stulz ... và nhiều hãng khác. Còn chọn thì em không chọn nhưng em vote cho Stulz. Cái này ứ đẹp bằng APC.

Một vài hình ảnh nhìn cho nó đỡ chán, chứ không các bác chửi em thằng này nó rảnh sao mà gõ nhiều chữ thế

http://www.stulz.com/uploads/pics/STULZ_Serverraum_04.jpg

http://www.montaplast.com/uploads/pics/STULZ_Grafik_Rechenzentrum_0908_01.jpg

http://www.3dc.net/~l3dcnetn/images/pics/hvac%20stulz%20cyberair2.jpg

http://www.govliquidation.com/shared/auction/images/photos/45311/45310975.jpg

http://www.berca-mp.co.id/web/images/product/nd5q8trdk3php1hfb82_resized.jpg

mr_chuon
15-10-2012, 16:58
Hay quá, đặt gạch hóng tiếp

truonghai_auto
17-10-2012, 11:55
kiến thức rất hay mong bác phát huy nhiều thank bác

concoho99
17-10-2012, 12:59
Đánh dấu, đang đọc dở bị gái gọi :sosad:

it.thuongnguyen
17-10-2012, 15:56
Tôi xin tiếp tục với những nội dung sau:

5. Hệ thống báo cháy, chữa cháy
6. Hệ thống chống sét
7. Hệ thống an ninh

Những nội dung này tôi chỉ biết về nó không am hiểu nhiều cho lắm nên chỉ dừng ở mức giới thiệu. Bạn nào muốn trang bị thì cử gửi INFO đến các công ty chuyên thi công những hệ thống này sẽ có trả lời chính xác.

1. Hệ thống báo cháy, chữa cháy.

Có cần hay không: Điều này phụ thuộc nhiều vào kinh phí và độ chịu chơi của các xếp. Theo em là cần, nhưng mà xếp không duyệt thì không sao nhưng nhớ là phải báo là nó mà cháy là em không chịu đâu nhé.

Trong khuôn khổ của bài viết này em chỉ đề cập đến phòng thiết bị mà thôi không đề cập đến vấn đề chữa cháy tòa nhà.

Theo em biết thì có 2 dạng cháy trong khu vực này đó là cháy âm ỉ và bùng cháy. Cháy âm ỉ thường rơi vào phần điện nhiều nhất, Dây điện quá tải hay chạm chập sinh quá nhiệt gây cháy, còn bùng cháy là sự mất kiểm soát của quá nhiệt.

Tốt nhất trong trường hợp này là ngăn chạy những hiện tượng này.

Các hệ thống chữa cháy

Khi em bị bắt đi học phòng cháy chữa cháy thì các đồng chí công an bảo thế này. Có 3 yếu tố hình thành đám cháy, nguồn nhiệt, chất cháy và oxy. Vậy muốn nó tắt làm sao thì làm cắt 1 trong 3 yếu tố trên nó sẽ tắt.

Hiện nay thị trường có nhiều hệ thống khí chữa cháy khác nhau như hệ thống CO2, hệ thống Inergen, hệ thống FM200, hệ thống Novec.

http://i253.photobucket.com/albums/hh71/thuongnh/FM200_zpsde52c885.jpg

Hệ thống CO2 không được phép sử dụng trong các trung tâm dữ liệu vì tính gây ngạt của CO2. Khi được phun vào phòng, CO2 có thể gây ngạt và bất tỉnh cho các nhân viên vận hành trung tâm dữ liệu chỉ trong thời gian vài giây.

Hệ thống Inergen hay Argonite có thể được sử dụng trong các phòng thiết bị điện ít người mà không nên sử dụng cho các trung tâm dữ liệu. Hệ thống Argonite hoạt động dựa trên nguyên lý đẩy oxygen ra khỏi khu vực cháy. Khi nồng độ oxygen giảm xuống dưới 14%, đám cháy sẽ được dập tắt.

Tuy nhiên tại nồng độ này, nhân viên vận hành hệ thống sẽ cảm thấy tức thở và khi nồng độ xuống tới dưới 12%, họ sẽ bất tỉnh.

Cùng với FM200, hệ thống Novec được sử dụng trong các trung tâm dữ liệu loại nhỏ và trung bình. So với hệ thống CO2 và Argonite, hệ thống FM200 và Novec không gây ngạt cho người, do đó được sử dụng trong các trung tâm dữ liệu hay phòng thiết bị điện nói chung. Bên cạnh đó, các mối nguy hiểm trong phòng máy tính và viễn thông có thể được giảm thiểu bằng cách sử dụng hệ thống báo cháy sớm kết hợp với hệ thống FM200, Novec.


http://i253.photobucket.com/albums/hh71/thuongnh/HT_FM200_zps5da6a7a5.jpg

Đối với các trung tâm dữ liệu, viễn thông loại trung bình và lớn có sử dụng cả tòa nhà, hệ thống chữa cháy phun sương (water mist) là một giải pháp chữa cháy hiệu quả nhất.

Hệ thống này không bị ảnh hưởng bởi độ kín của phòng, rất an toàn cho người, thiết bị và môi trường. Khi kết hợp với hệ thống báo cháy địa chỉ, hệ thống phun sương cho phép xác định chính xác vị trí xảy ra đám cháy, giúp người quản lý hệ thống có phương án xử lý kịp thời và chính xác.

Vậy túm lại: Chỉ nên dùng hệ thống FM200 và hệ thống Novec cho Server Room. Nếu làm datacenter thì chọn water mist. Chi tiết hỏi ông google và các công ty chuyên phòng cháy chữa cháy.

2. Hệ thống chống sét

Vẫn như cũ: Cần hay không ? Cần ạ vì bác nào bị trời oánh rùi sẽ biết được hậu quả của nó.

Vậy chống thì chống cái gì ? Chống sét lan truyền và trực tiếp.


Về chống sét lan truyền, chủ yếu là chống trên đường điện và cable đồng là chủ yếu. Còn cable quang thì bao trời oánh nhá, lan truyền vào mắt và nó có dẫn điện đâu.

Còn trực tiếp thì theo em biết là có cái gọi là thu lôi nhọn nhọn bầu bầu gì đó trên tòa nhà. Nói chung không quan tâm lắm

Em quan tâm đến những cái nằm trong phòng server của em thôi. Có 3 cấp chống sét, em nhớ là thế còn hơn thì chưa biết.

http://i253.photobucket.com/albums/hh71/thuongnh/63-95-thickbox_zpsdd88399e.jpg

Chống sét cấp 1 lắp tại bảng điện tổng của tòa nhà: Thiết bị này có tác dụng ngăn các dòng xung có cường độ lớn lan truyền từ ngoại tòa nhà vào. Thiết bị này là rất quan trọng đối với các khu công nghiệp hay tòa nhà cao tầng. Vì khả năng dòng sét với cường độ lớn chay trong dây dẫn là cao. Thiết bị này sử dụng công nghệ phóng điện (spark gap) giữa hai bản cực nên có tác dụng thoát dòng sét lớn an toàn và số lần làm việc là vài nghìn lần.

Thiết bị chống sét cấp 2 lắp tại bảng điện của server room. Thiết bị này có tác dụng ngăn chặn xung cấp 2 (8/20) lan truyền vào thiết bị phòng máy. Trong quá trình dây dẫn chạy từ bảng điện tổng của tòa nhà vào phòng máy nó có thể nhiễm dòng sét cảm ứng. Thiết bị náy sử dụng vật liệu MOV(Metal Oxide Varistor) truyền thống có độ an toàn cao.

Thiết bị chống sét cấp 3 đặt ngay trước các thiết bị IT như server, switch v.v.. Thiết bị này có tác dụng ngăn những xung điện áp do qua trình đóng mở mạch điện gây ra. Thiết bị này có điện áp bảo vệ thấp thời gian đáp ưng nhanh giúp nâng cao tuổi thọ của thiết bị.

Túm lại: Cần trang bị chống sét cấp 2 và cấp 3 cho phòng server nhé các bác.

3. Hệ thống an ninh

Nói thật là cái này không quan trọng lắm đối với mấy cái phòng server có < 10 rack. Nên thôi em chẵng bàn đến mất thời gian của nhau.

Nói đơn giản thì nó có mấy hệ thống access control, camera giám sát, chống trộm gì đó .... có tiền trang bị cũng hay có cái để em yêu khoa học, biết cho nó bằng chị bằng em.

Xong phần này em xin chuyển qua phần switch.

it.thuongnguyen
17-10-2012, 21:49
Đáng lẽ phần này em phải viết đầu tiên, như thú thực với các bác là viết cái kiểu tóm tắt và tổng hợp này rất khó nên giờ nó mới lòi ra.

Mọi người đọc chịu khó vòng qua vòng lại cho em nhé


I. Mở bài

So với đại đa số AE trong giới CNTT, tôi thuộc loại thất học. Tất cả mọi thứ đã và đang làm đều là nhờ các sếp ưu ái cho quậy chớ không có được miếng giấy Certificate nào vắt vai hết. Tuy vậy, tôi cũng đã làm một số việc được sếp & khách hàng đánh giá tàm tạm. Chưa thấy mắng mỏ hay ý kiến gì cả.

Với mong muốn người VN ta chia sẻ cho nhau càng nhiều càng ít để mấy ông Tây ba lô đỡ đè đầu cưỡi cổ, tôi mạnh dạn đưa ra một số kinh nghiệm và cách làm việc cá nhân trong lĩnh vực phân tích thiết kế hệ thống thông tin (tiếng tây kêu là Information System Analysis & Design) để mọi người xài được gì thì xài và góp ý kiến. Đảm bảo là tự làm, tự nghĩ, không chôm chỉa của ông Tây nào. Mà tôi cũng chỉ nêu về mặt nguyên tắc thôi, cụ thể thì chắc không đủ sức.

Tuy chỉ toàn chữ & không có đủ nhiệt tình format cho dễ đọc, mong AE cố gắng đọc và ủng hộ nhiệt tình. Vì kiến thức có hạn & thời gian cũng không nhiều, bài này của tôi không thể đầy đủ thông tin cũng như không thể đầy đủ những điều muốn nói - mong mọi người thông cảm.

II. Hệ thống thong tin phân tích và thiết kế

Trước tiên, tôi xin trình bày quan điểm riêng về các khái niệm liên quan đến vấn đề này, bao gồm Hệ thống Thông tin, Phân tích và Thiết kế.

1. Hệ thống Thông tin

Trong công việc của tôi, hệ thống thông tin (HTTT) bao gồm toàn bộ các loại hệ thống lưu trữ, xử lý, truyền tải thông tin. Có nghĩa là liên quan đến hệ thống mạng và dịch vụ mạng; hệ thống máy chủ và các ứng dụng quản trị/xử lý dữ liệu; hệ thống lưu trữ (storage) DAS, NAS, SAN; hệ thống sao lưu (backup) / phục hồi (restore) dữ liệu. Hệ thống cable truyền dẫn , các hệ thống điện nhẹ chẳng liên quan gì đến máy tính như điện thoại, camera …

2. Phân tích

Với tôi, đây là các công việc bao gồm từ tìm hiểu các yêu cầu mục tiêu của HTTT cần xây dựng (với nhiều nguồn khác nhau), phân loại và phân tích các yêu cầu đó, đến so sánh những gì phân tích được với yêu cầu gốc. Ngoài ra, công việc phân tích còn bao gồm cả một nội dung rất quan trọng là phân rã các yêu cầu mục tiêu thành hệ thống các yêu cầu thành phần để chuẩn bị cho việc thiết kế.

3. Thiết kế

Đây là công đoạn xen kẽ với phân tích vì, thực ra, trong quá trình phân tích, phần nào các ý tưởng thiết kế cũng đã được hình thành. Mục tiêu của việc thiết kế là đưa ra một mô hình chung, các thành phần hệ thống, và mối liên hệ tương hỗ giữa các thành phần đó. Cái đích của việc thiết kế bao gồm mô hình tổng quát, danh mục các thành phần, bản mô tả chức năng tổng quát và chức năng của từng thành phần, đặc tính kỹ thuật của từng thành phần, bảng đối chiếu hệ thống đã thiết kế với yêu cầu mục tiêu, và các yêu cầu cần thiết bên ngoài để đưa HTTT vào hoạt động.

III. Phân Tích

1. Tập hợp yêu cầu

Một HTTT bao giờ cũng được xây dựng có mục đích (dĩ nhiên). Các mục đích đó chính là các yêu cầu cần tập hợp.

Các yêu cầu ta có thể tập hợp được bao gồm nhiều loại: yêu cầu kỹ thuật, yêu cầu bán kỹ thuật, và yêu cầu phi kỹ thuật. Nếu một hệ thống chỉ có thuần túy yêu cầu kỹ thuật thì công việc nhàn hạ hơn nhiều. Các yêu cầu chỉ có phân nửa là kỹ thuật hoặc không có chút xíu kỹ thuật nào là loại yêu cầu mệt nhất.

Yêu cầu kỹ thuật là loại yêu cầu chỉ rõ ra các thành phần kỹ thuật của hệ thống (về chức năng, về thiết bị, hoặc cả hai). Yêu cầu bán kỹ thuật là yêu cầu theo kiểu có một chút chức năng, có một chút mong muốn từ người sử dụng. Yêu cầu phi kỹ thuật là yêu cầu thuần túy của người dùng cuối (end-user) và yêu cầu về mặt tài chánh của hệ thống.

Ta phải tập hợp tối đa các yêu cầu để đảm bảo hệ thống thiết kế ra đã cân nhắc đáp ứng nhiều nhất các yêu cầu đó. Tất nhiên là không hy vọng đáp ứng 100% các yêu cầu vì có nhiều yêu cầu có thể conflict nhau hoặc thuộc loại bất khả thi (theo nghĩa công nghệ chưa đáp ứng được hoặc theo nghĩa budget của phía đưa ra yêu cầu không đủ).

2. Phân loại

Có nhiều cách phân loại yêu cầu các nhau, tùy thuộc vào rất nhiều yếu tố. Ngoài các loại yêu cầu phân chia theo hàm lượng kỹ thuật kể trên, một số trong các yếu tố cơ bản tôi thường để phân loại yêu cầu gồm:

1. Số lượng các yêu cầu: số lượng này phản ánh hai điều chính - độ phức tạp của hệ thống mục tiêu và sự cẩn trọng (và nhất quán) của phía yêu cầu. Nếu số lượng này nhỏ, việc phân loại có thể không cần làm quá chi tiết.

2. Sự khác nhau của các đối tượng đưa ra yêu cầu: phản ánh khả năng (hoặc phương thức) lãnh đạo/tổ chức của phía đưa ra yêu cầu. Nếu yêu cầu được đưa ra từ nhiều đối tượng khác nhau, cho dù có nhiều điểm chung hay không, vẫn phải rất thận trọng trong việc phân tích thiết kế và đàm phán/thuyết phục để có được sự đồng thuận từ phía đưa ra yêu cầu.

3. Sự khác nhau về mục tiêu của các yêu cầu: thể hiện độ phức tạp (phạm vi) của hệ thống mục tiêu và phản ánh trọng tâm cần thiết kế của hệ thống này. Nếu có rất nhiều mục tiêu khác nhau, hệ thống cần thiết kế hoặc sẽ rất lớn, hoặc sẽ rất khó để đáp ứng đồng đều. Khi đó, tự ta phải lựa ra mục tiêu nào là mục tiêu chính (kết hợp với quá trình thảo luận/đàm phán).

3. Đàm phán và thống nhất yêu cầu

Sau khi phân loại, ta phải thực hiện một khâu cực kỳ quan trọng trong việc phân tích yêu cầu là lập một bảng tập hợp yêu cầu theo sự phân loại đã thực hiện, trong đó nêu rõ trọng số (độ ưu tiên) của các yêu cầu.

Quá trình tập hợp, phân loại và lập bảng yêu cầu này sẽ phải thực hiện cùng với sự đàm phán với phía đưa ra yêu cầu. Mục tiêu của việc đàm phán này là làm rõ và chốt cố định danh mục các yêu cầu cần đáp ứng của hệ thống mục tiêu.

4. Phân tích yêu cầu

Sau khi đã chốt được danh mục và nội dung yêu cầu, cùng với nội dung cụ thể của từng yêu cầu, ta có thể bắt đầu công việc phân tích.

a. Chuyển đổi thành yêu cầu kỹ thuật

Với hàng loạt yêu cầu các loại, ta cần phải thực hiện việc chuyển đổi các yêu cầu bán kỹ thuật và phi kỹ thuật thành yêu cầu kỹ thuật. Việc chuyển đổi này được thực hiện căn cứ trên ý tưởng chắc chắn đã hình thành của hệ thống mục tiêu cần xây dựng. Quá trình chuyển đổi có thể đơn giản, mà cũng có thể rất phức tạp, phụ thuộc rất nhiều vào kinh nghiệm và kiến thức (độ rộng & sâu) của từng cá nhân trong các lĩnh vực liên quan đến hệ thống cần thiết kế.

b. Xây dựng lưu đồ luồng dữ liệu

Do là một hệ thống thông tin, chắc chắn phải có dữ liệu, và là dữ liệu sống (chớ không chết ). Một hệ thống có dữ liệu sống chắc chắn phải có các yếu tố liên quan như đầu vào, đầu ra, yêu cầu chất lượng, yêu cầu nội dung, các điểm kiểm tra, các điểm phân nhánh, các yêu cầu lọc lựa, v.v...

Căn cứ trên các yêu cầu kỹ thuật và các yếu tố liên quan tới dữ liệu kể trên, ta cần xây dựng lưu đồ luồng dữ liệu luân chuyển trong hệ thống và xác định các nút chức năng cần có trong sơ đồ đó. Các nút chức năng này cần phải được mô tả rõ ràng tương ứng với lưu đồ đã xây dựng.

c. Xây dựng sơ đồ khối chức năng

Từ lưu đồ luồng dữ liệu đã lập, với các nút chức năng chi tiết, ta sẽ thực hiện việc gom các nút chức năng này vào các khối. Việc gom khối này cũng được làm căn cứ trên ý tưởng về hệ thống mục tiêu và hiểu biết về công nghệ và năng lực kỹ thuật của các loại thành phần có thể có trong hệ thống mục tiêu đó. Sơ đồ khối chức năng này là cơ sở chính để thiết kế hệ thống thông tin mục tiêu.

d. Rà soát, đối chiếu sơ đồ khối chức năng với các yêu cầu

Đây là công việc cực kỳ quan trọng, đảm bảo khả năng đáp ứng yêu cầu cho hệ thống sẽ được thiết kế. Ta sẽ phải đưa giả thiết cho dữ liệu đầu vào, kiểm tra tác động của hệ thống lên dữ liệu đầu ra, kiểm tra các phương thức truy xuất dữ liệu nội hệ thống và từ ngoài hệ thống, v.v... Các phương thức và dữ liệu đầu ra này sẽ được đối chiếu với các yêu cầu đã thu thập và thống nhất với phía đưa ra yêu cầu kể trên.

Nếu có thiếu sót ở một phần nào đó, ta sẽ phải thực hiện chỉnh sửa lại từ bước (c), hoặc thậm chí là bước (b) nếu cần.

IV. Thiết kế

Giai đoạn này được thực hiện dựa trên các dữ kiện Sơ đồ khối chức năng & Yêu cầu kỹ thuật (đã được chuyển đổi và tập hợp từ các yêu cầu gốc).

1. Xác định các thành phần hệ thống

Căn cứ trên Sơ đồ khối chức năng, kết hợp với kiến thức về các công nghệ khả dụng và năng lực kỹ thuật của các trang thiết bị và phần mềm hiện có trên thị trường (đối với ta), việc lựa chọn các thành phần kỹ thuật sẽ được thực hiện. Việc lựa chọn ở bước này sẽ được phản ánh bằng sơ đồ logic tổng thể của hệ thống với các thành phần và chức năng của chúng.

Sơ đồ logic tổng thể sẽ được đối chiếu với lưu đồ luồng dữ liệu đã đưa ra trong khâu phân tích về khả năng và tính năng quản lý luồng dữ liệu. Nếu có sai sót, việc lựa chọn các thành phần hệ thống sẽ được thực hiện lại.

2. Xác định từng thành phần hệ thống

Với sơ đồ logic liên kết các thành phần hệ thống, kết hợp với các đòi hỏi về mặt kỹ thuật (như tính sẵn sàng cao, khả năng mở rộng, khả năng chịu lỗi,...), ta sẽ xây dựng sơ đồ cụ thể cho từng thành phần hệ thống. Ví dụ như lưu trữ theo cơ chế nào (?); có thiết lập mô hình cluster không (?); sử dụng hệ điều hành, phần mềm hệ thống và các phần mềm ứng dụng nào (?);... sẽ được quyết định trong bước này.

3. Lập danh mục thiết bị và dự trù chi phí

Việc này được thực hiện một cách tương đối dễ dàng sau bước xác định từng thành phần hệ thống kể trên. (Trong thực tế, việc này không chỉ phụ thuộc khả năng của các trang thiết bị hiện có trên thế giới mà còn phụ thuộc vào việc ta có thể deal tốt nhất với hãng cung cấp nào).

4. Rà soát, hiệu chỉnh thiết kế

Như đã đề cập, có nhiều yêu cầu phi kỹ thuật hoặc bán kỹ thuật rất khó chuyển đổi thành yêu cầu kỹ thuật. Đặc biệt nhất trong số đó là các yêu cầu về mặt tài chánh.

Sau khi xác định danh mục thiết bị và dự trù chi phí, ta phải thực hiện cân đối với yêu cầu về mặt tài chánh cho hệ thống đã thiết kế. Độ ưu tiên của các yêu cầu đã tập hợp đóng vai trò quyết định trong chuyện gia giảm/sửa đổi các thành phần của hệ thống mục tiêu.

Ngoài ra, còn nhiều yếu tố khác (tồn tại hoặc phát sinh) sẽ ảnh hưởng đến việc điều chỉnh thiết kế. Khó có thể kể ra cụ thể các yếu tố này (kể cả đưa ví dụ), bởi vậy, tôi giả định là việc thiết kế tới đây đã hoàn tất

V. Đệ trình, thuyết minh và bảo vệ thiết kế

Sau khi hoàn thành thiết kế, một công đoạn quyết định sự thành công của bản thiết kế là lập tài liệu thuyết minh và bảo vệ thiết kế. Đây là công đoạn đòi hỏi nhiều kinh nghiệm nhất, vì cần phải lường trước được nhiều nhất phản ứng của phía được yêu cầu đối với bản thiết kế.

Cũng như khi thi vấn đáp, một mẹo thường dùng là phần nào ta không nắm chắc thì trình bày trong tài liệu (hoặc slides) thiệt kỹ, phần nào nắm chắc thì để hơi lu để phía bên kia hỏi thì trả lời cho ngon.

it.thuongnguyen
17-10-2012, 22:04
Những gì tôi viết ở POST #32 tôi sẽ quay lại chi tiết sau. Những cái tôi đang viết là những điều thuộc về kỹ thuật. Còn ở POST 32 là đứng ở vị trí tư vấn thiết kế.

Mong các bạn phân biệt cho rõ không sẽ bị rối loạn thông tin

it.thuongnguyen
17-10-2012, 22:13
Em xin dừng 1 vài hôm để quy hoạch lại, nếu em cứ tiếp tục như vậy đối với 1 số AE chuyên ngành sẽ hiểu nhưng đối với những ai chưa làm sẽ không biết phải bắt đầu từ đâu. Em sẽ tổng hợp lại cho có hệ thống hơn để mọi người hình dung

Thanks !

HPWORKSTATION
19-10-2012, 10:11
Hi ...
Cái này em nghĩ phù hợp với hệ thống DATACENTER có từ 10 máy trở lên hơn. Em không làm thầu nên cũng chưa đụng qua hệ thống phức tạp như vậy bao giờ , toàn là bán hỗ trợ dự án không :)) nhưng cũng đang có ý định học về hệ thống để sau này cần thì có cái mà mò . Bác it.thuongnguyen ở HN thì hôm nào em xin cái lịch bác chỉ em ít nhé . còn ở chỗ khác thì em sẽ xin bác ít kinh nghiệm qua email . Bác chỉ giáo cho em nhé !!
Thanks bác

it.thuongnguyen
19-10-2012, 11:29
Hi ...
Cái này em nghĩ phù hợp với hệ thống DATACENTER có từ 10 máy trở lên hơn. Em không làm thầu nên cũng chưa đụng qua hệ thống phức tạp như vậy bao giờ , toàn là bán hỗ trợ dự án không :)) nhưng cũng đang có ý định học về hệ thống để sau này cần thì có cái mà mò . Bác it.thuongnguyen ở HN thì hôm nào em xin cái lịch bác chỉ em ít nhé . còn ở chỗ khác thì em sẽ xin bác ít kinh nghiệm qua email . Bác chỉ giáo cho em nhé !!
Thanks bác

Em ở HCM bác ơi, hi hi nếu cần gì cứ email cho em. Cái gì em biết em chỉ hết !! :beauty:

goldenfish125_ver4
19-10-2012, 16:30
Lót switch cắm cáp sẵn hóng :D

nhìn bó dây trên kia đã quá

Raul
20-10-2012, 09:24
Bài viết hay quá, tiếc là mình chưa được tiếp xúc nhiều với các hệ thống này

fisico
22-10-2012, 16:54
Anh ơi, anh có thể viết 1 bài về đấu nối ODF được không, em muốn tìm hiểu cái này mà còn mù mờ quá. Với cho em hỏi ODF với Fiber Optic Patch Panel có phải là một không, hay là khác nhau?

xda160
22-10-2012, 17:29
So với đại đa số AE trong giới CNTT, tôi thuộc loại thất học. Tất cả mọi thứ đã và đang làm đều là nhờ các sếp ưu ái cho quậy chớ không có được miếng giấy Certificate nào vắt vai hết.

:beauty: giống em quá

nguyenkhabk
22-10-2012, 19:40
Bác
it.thuongnguyen
Senior Member

đang làm việc về mảng này hay đi comment ở đâu vậy ???

thanhhai5791
22-10-2012, 19:55
Cái thứ mà bác có quan trọng hơn mấy cái miếng certificate nhiều :sexy::sexy:

it.thuongnguyen
23-10-2012, 00:07
Anh ơi, anh có thể viết 1 bài về đấu nối ODF được không, em muốn tìm hiểu cái này mà còn mù mờ quá. Với cho em hỏi ODF với Fiber Optic Patch Panel có phải là một không, hay là khác nhau?

Cho em nợ vợ em bắt đi ngủ mai em viết. Thực ra cái này nó đơn giản thôi, quan trọng là mấy cái đầu nối. Còn cái loại mật độ cao nó mới phức tạp.

2 cái bác hỏi là 2 món phân biệt qua công dụng của từng thứ

OFD: Là thiết bị dùng để đấu nối cable từ ngoài vào hay các đường trục chính

Fiber Optic Patch Panel: Nằm đằng sau ODF, từ ODF đến Patch Panel xong đến thiết bị (switch, converter ...)

Nhưng bây giờ thông thường dùng ODF là chính dẹp cái patch panel đi đỡ tốn 1 mớ

Bác
it.thuongnguyen
Senior Member

đang làm việc về mảng này hay đi comment ở đâu vậy ???

Là sao ta ?

Cái thứ mà bác có quan trọng hơn mấy cái miếng certificate nhiều :sexy::sexy:

Hi hi không hẳn, đồng ý kiến thức quan trọng. Nhưng không có Cert thì chỉ được làm thôi còn thằng khác nó ký tên trên hồ sơ. Có cái cert lương cao hơn và được yêu sách nhiều hơn. Sự thật đấy ... :gach:

fisico
25-10-2012, 08:46
Cho em nợ vợ em bắt đi ngủ mai em viết. Thực ra cái này nó đơn giản thôi, quan trọng là mấy cái đầu nối. Còn cái loại mật độ cao nó mới phức tạp.

2 cái bác hỏi là 2 món phân biệt qua công dụng của từng thứ

OFD: Là thiết bị dùng để đấu nối cable từ ngoài vào hay các đường trục chính

Fiber Optic Patch Panel: Nằm đằng sau ODF, từ ODF đến Patch Panel xong đến thiết bị (switch, converter ...)

Nhưng bây giờ thông thường dùng ODF là chính dẹp cái patch panel đi đỡ tốn 1 mớ

Khi nào rãnh viết 1 bài về cái này nha anh.

thanhhai5791
27-10-2012, 23:04
Hi hi không hẳn, đồng ý kiến thức quan trọng. Nhưng không có Cert thì chỉ được làm thôi còn thằng khác nó ký tên trên hồ sơ. Có cái cert lương cao hơn và được yêu sách nhiều hơn. Sự thật đấy ... :gach:

Nhưng với mảng của bác thì nào có cái cert nào đâu :adore:. Mà có thì chắc cũng kéo cày vài năm mới đủ tiền mà đi học :sweat:

6996
01-11-2012, 16:50
Mình có bài toán này nhờ bro tư vấn giúp, về cơ bản thôi nhé.

Thanks bro :beauty:

it.thuongnguyen
01-11-2012, 19:25
Mình có bài toán này nhờ bro tư vấn giúp, về cơ bản thôi nhé.

Thanks bro :beauty:

http://i253.photobucket.com/albums/hh71/thuongnh/IPandnetworkdevice.png

Up giúp cái hình !

Bài tập hay dự án thực tế ? dự án thực tế thì post cái bản vẽ đàng hoàng lên đây còn bài tập thì em trả lời thế này.

1. Yêu cầu không mô tả chi tiết thì biết làm như thế nào ?

2. Những con số 10 20 30 có ý nghĩa gì ?

3. Số lượng PC > 200 cho toàn khu hay chỉ 1 Building

+ Số lượng switch quang cần: 1 con có khi chẳng cần
+ Chia VLAN theo chức năng của từng bộ phận



Chả thấy đề cập gì đến giải pháp thiết kế nên chẳng biết muốn gì ? Nếu còn đang đi học thì xem lại phần phân tích thiết kế hệ thống nhé. Xác định rõ các yêu cầu, sau khi có các yêu cầu cụ thể mình bàn tiếp nhé

6996
03-11-2012, 08:43
Bài tập hay dự án thực tế ? dự án thực tế thì post cái bản vẽ đàng hoàng lên đây còn bài tập thì em trả lời thế này.

1. Yêu cầu không mô tả chi tiết thì biết làm như thế nào ?

2. Những con số 10 20 30 có ý nghĩa gì ?

3. Số lượng PC > 200 cho toàn khu hay chỉ 1 Building

+ Số lượng switch quang cần: 1 con có khi chẳng cần
+ Chia VLAN theo chức năng của từng bộ phận



Chả thấy đề cập gì đến giải pháp thiết kế nên chẳng biết muốn gì ? Nếu còn đang đi học thì xem lại phần phân tích thiết kế hệ thống nhé. Xác định rõ các yêu cầu, sau khi có các yêu cầu cụ thể mình bàn tiếp nhé

Thanks bạn.
Những con số 10, 20, 30... là số PC tại mỗi tầng của mỗi khu nhà đó bạn.
Nếu ko dùng switch quang thì bạn dùng converter quang ah ?

boydoncoi
03-11-2012, 09:31
Đề nghị lập topic khác.
Còn câu trả lời thiệt là mệt
Hiện giờ các cat6 cho phép khoảng cách hơn 150m, xài 3 dây cat6 là 3Gbps rồi, chi phí rẻ hơn cáp quan là cái chắc. ==> Ít nhất là 0 cái switch quang, mà cái quỷ này đắt tiền lắm nên giải pháp mua cái này là xa xỉ.

Còn cái VLAN, thì chia theo phòng ban khác building. Chứ trong 1 building thì chi phí đội lên nhiều lắm...

Nhưng để chắc cú thì theo it.thuongnguyen chúng ta nên có cái bản đề án chi tiết cụ thể hơn.

it.thuongnguyen
04-11-2012, 22:56
Thanks bạn.
Những con số 10, 20, 30... là số PC tại mỗi tầng của mỗi khu nhà đó bạn.
Nếu ko dùng switch quang thì bạn dùng converter quang ah ?

Điều quan trọng chi phí và yêu cầu của bạn đặt ra là bao nhiêu ? mới đưa ra được hướng giải quyết tốt nhất.

Về switch mình VD bạn dùng con Cisco 3750 nó khác với việc bạn dùng 4500 với module quang gắn thêm. Nhiều khi yêu cầu cao hơn thì Nexus

Còn rẻ tiền dùng converter

Đề nghị lập topic khác.
Còn câu trả lời thiệt là mệt
Hiện giờ các cat6 cho phép khoảng cách hơn 150m, xài 3 dây cat6 là 3Gbps rồi, chi phí rẻ hơn cáp quan là cái chắc. ==> Ít nhất là 0 cái switch quang, mà cái quỷ này đắt tiền lắm nên giải pháp mua cái này là xa xỉ.

Còn cái VLAN, thì chia theo phòng ban khác building. Chứ trong 1 building thì chi phí đội lên nhiều lắm...

Nhưng để chắc cú thì theo it.thuongnguyen chúng ta nên có cái bản đề án chi tiết cụ thể hơn.

Cho mình xin tài liệu nào nói về cái chỗ tô đỏ. Mình đã thi công hệ thống Cat6A 10Gb. Không thấy tài liệu nói về cái naỳ !

100 Meters (90 "in the wall," Solid conductor, + up to 5 meters of jumper cordage ,stranded conductor at each end, is the spec for TIA/EIA 568 structured cablin

When used for 10/100/1000BASE-T, the maximum allowed length of a Cat 6 cable is 100 meters or 328 feet. This consists of 90 meters (300 ft) of solid "horizontal" cabling between the patch panel and the wall jack, plus 10 meters (33 ft) of stranded patch cable between each jack and the attached device. Since stranded cable has higher attenuation than solid cable, exceeding 10 metres of patch cabling will reduce the permissible length of horizontal cable.

When used for 10GBASE-T, Cat 6 cable's maximum length is 55 meters (180 ft) in a favourable alien crosstalk environment, but only 37 meters (121 ft) in a hostile alien crosstalk environment, such as when many cables are bundled together. However, because the effects of alien crosstalk environments on cables are difficult to determine prior to installation, it is highly recommended that all Cat6 cables being used for 10GBASE-T are electrically tested once installed. With its improved specifications, Cat6A does not have this limitation and can run 10GBASE-T at 100 meters (330 ft) without electronic testing.

Việc chia VLAN thì tuỳ vào tình hình thực tế mới có cách chia hiệu quả được. Chi phí đội lên là chi phí của Switch

boydoncoi
05-11-2012, 09:22
Tại bác chưa thi công 150m thôi. Loại xây xịn vẫn kéo được mà. Lý thuyết 100m thì ở đâu cũng có, còn có lời khuyên max là 80m nữa mà. Nhưng khi thi công các đoạn dài 150m vẫn ok nếu đó là dây tốt. Kinh nghiệm thôi ko có tài liệu. Thông cảm nha.

it.thuongnguyen
05-11-2012, 09:47
Tại bác chưa thi công 150m thôi. Loại xây xịn vẫn kéo được mà. Lý thuyết 100m thì ở đâu cũng có, còn có lời khuyên max là 80m nữa mà. Nhưng khi thi công các đoạn dài 150m vẫn ok nếu đó là dây tốt. Kinh nghiệm thôi ko có tài liệu. Thông cảm nha.

OK bác !

Việc này chỉ áp dụng với các công trình không đòi hỏi tiêu chuẩn thôi. Đối với những dự án lớn họ quy định luôn tiêu chuẩn trong hợp đồng như ISO hay TIA/EIA thì cách này bó tay.

1 số công trình không yêu cầu tiêu chuẩn nhưng đòi hỏi test report nghiệm thu bằng TX-1800 thì fail hết.

Em cũng chưa thử nó có chạy hay không, từ trước giờ node dài nhất em làm là 90m.

ptuanhht
14-11-2012, 18:38
KHẮC PHỤC UPS XUỐNG CẤP

(Lưu ý: Đây là các kinh nghiệm của tôi, chúng được bản thân tôi kiểm chứng mà tôi chưa gặp một tài liệu nào nói đến điều này)

Tôi có một may mắn trong thời gian trước đây đã được sử dụng rất nhiều các loại UPS khác nhau được sản xuất tại Châu Âu cũng như ở Việt Nam. Ở đây có rất nhiều UPS với các công nghệ khác nhau: từ Offline đơn thuần, Offline sử dụng công nghệ Interactive cho đến loại online.

Tất cả các ổn áp tôi sử dụng đều sử dụng hai ắc quy như đã nói ở trên, chúng mắc nối tiếp nhau để cung cấp một nguồn điện một chiều 24 Vdc cho khối inverter cung cấp điện đầu ra.

Tôi nhận thấy rằng các UPS thường bị hư hỏng sau khoảng hai năm làm việc, chúng mất tác dụng lưu điện hoặc hoàn toàn không làm việc được nữa. Đối với các UPS được sản xuất ở khu vực Châu Á với tiêu chuẩn chất lượng phù hợp với địa phương thì tôi không muốn so sánh, nhưng với các UPS này đã hợp chuẩn Châu Âu nên việc hư hỏng hàng loạt khiến cho tôi thắc mắc, muốn tìm hiểu nó.

Khi tôi tháo các UPS này ra kiểm tra thì đều nhận thấy rằng các ắc quy bị khô hoặc thiếu dung dịch. Hầu hết chúng đều cạn đến mức tối đa (cạn đến đáy bình). Việc một ắc quy bị thiếu hụt dung dịch thì chúng không thể tích điện được nữa. Điều này có ngạc nhiên không đối với bạn? Cái sự thiếu nước đó? Chắc là có, bởi vì trước đây tôi đã nghĩ rằng chúng là các loại ắc quy khô - có nghĩa là các loại ắc quy không giống như thông thường. Chỉ khi tháo ra vài chiếc thì tôi mới biết rằng chẳng phải loại ắc quy khô gì cả mà người ta quen gọi chúng cho một loại ắc quy không cần bảo dưỡng mà thôi. Bạn vẫn còn nghi ngờ về điều này? Đơn giản thôi, hãy đi mua một chiếc "ắc quy khô" dành cho xe máy, tháo chúng ra - ở bên trong có nhiều dung dịch đấy.

Để thử nghiệm và sửa chữa một cách tạm thời, tôi đã dùng nước được điều chế để chế bổ sung cho các ắc quy xe máy được bán ở hiệu sửa xe thông thường để đổ vào chúng. Thực ra cách làm này có một cách gì đó "phản khoa học", nhưng thời điểm đó tôi đã làm vì như vậy để cứu vớt những chiếc UPS đã được liệt vào dạng hư hỏng và xếp vào kho đồ cũ từ lâu. Phản khoa học ở đây là việc không tìm hiểu kỹ loại ắc quy đó dùng dung dịch gì, chế độ bảo dưỡng bao nhiêu, cứ theo cảm tính của mình mà đổ dung dịch để sửa chữa.

Bạn có thể làm gì? làm thế nào?

Như vậy thì bạn có thể bảo dưỡng thế nào đối với các ắc quy bên trong UPS của bạn? Tôi nghĩ rằng sau khi dùng khoảng một năm - cũng là lúc mà thời hạn UPS đã hết hạn bảo hành thì bạn nên tháo chúng ra để kiểm tra lượng dung dịch bên trong các ắc quy đó.

Các cụm thiết bị bên trong UPS thường là lắp ghép theo các khối, nếu khéo léo tháo được vỏ của UPS ra thì các thiết bị bên trong rất dễ dàng tháo rời thành từng phần để có thể tháo các ắc quy ra ngoài.

Sau khi tháo được hai ắc quy ra ngoài, cố gắng lắc, soi dưới ánh đèn, ... để tìm hiểu xem chúng còn lại lượng dung dịch bao nhiêu ở bên trong. Nếu thấy thiếu, bạn có thể tìm cách tháo phần nắp bảo vệ của các ắc quy đó. Thực sự thì việc tháo các ắc quy này rất khó khăn đối với những người nóng tính, sốt ruột bởi chúng được thiết kế kiểu như dùng một lần rồi bỏ nên gắn rất chắc chắn (một phần của sự chắc chắn này là chống bay hơi hoặc làm rơi rớt dung dịch trong ắc quy ra ngoài).

Một cách khoa học, hãy cố gắng tìm hiểu dung dịch gì nếu có thể. Còn nếu không, bạn có thể đổ nước cất hoặc dung dịch axít loãng thường dùng cho các ắc quy thông thường được bán ngoài thị trường.

Lúc này là lúc mà bạn cần gắn các khối trong UPS lại như cũ để có thể cho nó làm việc được. Chú ý rằng lúc này chưa phải là lúc gắn tất cả các thiết bị vào trong vỏ của UPS, mà bạn nên để chúng ra ngoài để có thể hoạt động bình thường như chúng được gắn vào trong vỏ như thiết kế. Thực hiện điều này bạn phải cố gắng lựa cách sắp xếp bởi vì các dây dẫn được gắn có vẻ ngắn chứ không được như ý muốn của chúng ta. Lưu ý rằng các ắc quy lúc này không nên nút chặt các nút của nó và chiều ắc quy phải đặt đứng lên theo chiều nắp ở phía trên.

Sau khi gắn lại, bạn hãy cắm điện để UPS hoạt động ở chế độ không tải, hãy quan sát trạng thái làm việc của nó thông qua các đèn, đồng hồ hoặc màn hình của UPS (tuỳ thuộc từng loại khác nhau) để xem chúng có hoạt động như bình thường không. Nếu có bất kỳ sự khác thường nào thì bạn cần rút điện nguồn ngay để kiểm tra lại sự lắp ghép các khối của mình, chiều cực (âm/dương) của ắc quy...

Sau khi nạp điện một thời gian, bạn chuyển sang trạng thái làm việc có tải, thử nghiệm sử dụng mất nguồn điện lưới (không cung cấp điện vào UPS) để xem các kết nối của bạn đã đảm bảo chắc chắn hay chưa, các ắc quy mới thêm dung dịch của bạn có đảm bảo hoạt động tốt hay không.

Sau quá trình này thì bạn mới ghép chúng vào vỏ, kiểm tra vài lần rồi mới sử dụng như chưa từng tháo ra.

Chú ý quan trọng: Sau khi cạy tháo nắp của ắc quy, bạn chú ý đến khả năng kín khít của nó sẽ không còn được như trước đây, do đó cần chú ý đến vị trí lắp đặt các ắc quy của UPS. Hãy đặt vị trí của UPS sao cho chiều đứng của ắc quy luôn hướng lên phía trên. Tôi có đã thấy một số UPS được thiết kế đặt các ắc quy nằm ngang trong khi làm việc - đây là một thiết kế mà nhà sản xuất đã quá tin tưởng về việc sử dụng các ắc quy kín khít để không bị thất thoát dung dịch cho một quá trình làm việc lâu dài.
hay và bổ ích lắm

Teppi85
14-11-2012, 21:17
bạn it.thuongnguyen bao tuổi vậy, kiến thức về thi công mạng dễ nể thiệt, mình theo bên quản trị mạng nhưng thích thi công, hồi xưa đi lắp mấy cái thiết bị bên viễn thông thích lắm. Nhiều lúc cứ mơ ước có tiền mở cty chuyên thi công, bán thiết bị mạng... :surrender:

it.thuongnguyen
15-11-2012, 10:34
bạn it.thuongnguyen bao tuổi vậy, kiến thức về thi công mạng dễ nể thiệt, mình theo bên quản trị mạng nhưng thích thi công, hồi xưa đi lắp mấy cái thiết bị bên viễn thông thích lắm. Nhiều lúc cứ mơ ước có tiền mở cty chuyên thi công, bán thiết bị mạng... :surrender:

Hix em mới hết tuổi xì teen thôi. Em cũng đang làm quản trị mạng + với quản lý dự án CNTT cho công ty.

Em chuyên phần điện nhẹ (M&E) nên liên quan đến những thứ này.

Teppi85
16-11-2012, 22:36
Hix em mới hết tuổi xì teen thôi. Em cũng đang làm quản trị mạng + với quản lý dự án CNTT cho công ty.

Em chuyên phần điện nhẹ (M&E) nên liên quan đến những thứ này.

đến 25 chưa bạn, thế mình phải học hỏi bạn nhiêu, đa năng phết nhỉ: điện nhẹ, quản trị mạng, quản lý dự án...bao quát gần hết công việc đc rồi nhỉ. Ra làm ăn riêng thôi :beauty:

latre263
23-11-2012, 15:23
Nếu mình muốn kết nối hai mạng LAN (khoảng cách 12km) bằng cách config router có khả thi không nhỉ ?

it.thuongnguyen
23-11-2012, 15:53
Nếu mình muốn kết nối hai mạng LAN (khoảng cách 12km) bằng cách config router có khả thi không nhỉ ?

Khoảng cách không thành vấn đề, vấn đề ở đây là chất lượng đường truyền dẫn của bạn. Lease line, Metronet ... còn tùy việc bạn chọn giải pháp truyền dẫn mới tính đến việc có router hay không ?

Nếu là 1 đường cable quang trực tiếp thì không cần router cứ cắm trực tiếp vào switch mà chạy.

Nếu bạn sử dụng các dịch vụ mà liên quan đến mấy chú viễn thông thì việc rùng router là chắc chắn

Tốc độ và chất lượng dịch vụ phụ thuộc vào chi phí bạn trả cho kênh truyền dẫn này (không nói đến việc kéo trực tiếp)

sheros
28-11-2012, 10:36
Thanks bác nhiều, rất bổ ích đúng những cái em đang thiếu và k biết gì..

latre263
28-11-2012, 17:29
Khoảng cách không thành vấn đề, vấn đề ở đây là chất lượng đường truyền dẫn của bạn. Lease line, Metronet ... còn tùy việc bạn chọn giải pháp truyền dẫn mới tính đến việc có router hay không ?

Nếu là 1 đường cable quang trực tiếp thì không cần router cứ cắm trực tiếp vào switch mà chạy.

Nếu bạn sử dụng các dịch vụ mà liên quan đến mấy chú viễn thông thì việc rùng router là chắc chắn

Tốc độ và chất lượng dịch vụ phụ thuộc vào chi phí bạn trả cho kênh truyền dẫn này (không nói đến việc kéo trực tiếp)

Cảm ơn bác, bên em chắc là thuê 1 đường lease line. Mong bác đưa thêm thông tin để anh em còn học hỏi. Ăn rồi chỉ vào đây xem bác đã post thêm chưa thôi đấy. Rất ủng hộ bác

quan2610
28-11-2012, 19:40
cái này hay quá ..... :X :X :X

contria412
01-12-2012, 14:36
đặt gạch hóng, mình đi làm cái này cung được 1 năm rồi, chủ yếu là công trình nhỏ thôi, chưa có cơ hội làm những cong trình lớn :sogood:

dangbinh2buy
05-12-2012, 10:42
up............................................................

f4brk
20-08-2013, 14:58
Tiếp đi bác ơi. Nghỉ lâu quá rồi.

it.thuongnguyen
21-08-2013, 08:06
Tiếp đi bác ơi. Nghỉ lâu quá rồi.

Cái tật cố hữu nhất của dân CNTT là bắt đầu mà không chịu kết thúc em sẽ cố gắng tiếp tục ạ :gach:

origamiers
14-09-2013, 19:01
Đúng là cái mình cần, đang làm mấy cái hạ tầng mạng cho hệ thống siêu thị B'smart đọc xong bài này của bác mới thấy mình như con gà. bỏ thời gian ra đọc hết bài của bác mới được

mèomoon
16-09-2013, 09:48
thuongnguyen cho mình hỏi test chất lượng cable mạng như thế này bằng phần mềm gì ? có cần thiết bị đặc biệt gì để thực hiện test ko ?

it.thuongnguyen
16-09-2013, 13:11
Đúng là cái mình cần, đang làm mấy cái hạ tầng mạng cho hệ thống siêu thị B'smart đọc xong bài này của bác mới thấy mình như con gà. bỏ thời gian ra đọc hết bài của bác mới được

Mỗi ngày tích lũy chút kinh nghiệm chia sẻ cho mọi người cho nhanh bác ạ. Chứ để cứ mày mò tìm hiểu biết khi nào cộng đồng mới khá được.

thuongnguyen cho mình hỏi test chất lượng cable mạng như thế này bằng phần mềm gì ? có cần thiết bị đặc biệt gì để thực hiện test ko ?

Cái này không phải test bằng phần mềm mà bằng thiết bị.

Nó edit mất cái phần header thì phải

Nếu muốn có cái report thì cần có cái máy này: http://www.flukenetworks.com/datacom-cabling/copper-testing/dtx-cableanalyzer-series (http://www.flukenetworks.com/datacom-cabling/copper-testing/dtx-cableanalyzer-series)

:byebye:

whitemask
18-09-2013, 13:23
Giá của cái fluke trong link cụ thuongnguyen đưa cũng choáng váng lắm, cty lớn mới chịu nhiệt nổi.

it.thuongnguyen
20-09-2013, 12:31
Giá của cái fluke trong link cụ thuongnguyen đưa cũng choáng váng lắm, cty lớn mới chịu nhiệt nổi.

Em ôm mấy cái này hoài, nói thiệt là chẳng muốn tí nào đâu ạ. Nó đắt ngang ngửa với cái ôtô nếu mua full options.

Nhưng mà công nhận nghiệm thu bằng thứ này thì nhiều chú chết lắm. Nhưng nếu biết thì có thể bùa được :gach::gach:

LaoAi
22-09-2013, 22:17
Tks bác,nhiều kinh nghiệm hay quá,em lót dép hóng :sexy:

karu88
11-12-2015, 00:24
lôi lên ae chia sẽ

it.thuongnguyen
05-10-2016, 13:19
Update !!

Đã từng một thời, với những “thắc mắc biết hỏi cùng ai” về thiết kế mạng:

* Hệ thống mạng trên thực tế đang hoạt động được thiết kế như thế nào ?

* Mô hình mạng cần phải thiết kế ra sao cho từng đối tượng khách hàng (SMB, Enterprise, Banking, …) ?

* Phải chọn thiết bị mạng (Switch, Router, Firewall, …) tối ưu nhất trong từng thiết kế ?

* Ứng dụng những kiến thức đã học trong viêc thiết kế một hệ thống mạng trong thực tế như thế nào ?

Tại thời điểm đó, cũng có chút kiến thức học được, tuy nhiên việc áp dụng các kiến thức đã học áp dụng vào thực tế chỉ là con số 0 tròn trĩnh, hay nói cách khác, đó là một cảm giác “có võ công nhưng khi gặp cao thủ để tỉ thí thì không biết dùng như thế nào”, một cảm giác … thực sự rất khó chịu… đó là:

- Học về HSRP/VRRP/GLBP, hiểu rõ các giao thức này hoạt động ra sao, hiểu rõ phải cấu hình thế nào, hiểu rõ phải troubleshoot ra sao nếu có sự cố,… nhưng lại không biết phải dùng ở đâu trong mô hình mạng.

- Học về Spanning Tree Protocol (STP), Rapid Spanning Tree Protocol (RSTP), PVST+, Rapid-PVST, MST: hiểu rõ làm sau để cấu hình Root Bridge, Root Port, Load Sharing với STP, sự khác biệt giữa STP, RSTP, PVST+, Rapid-PVST, MST, ưu và nhược điểm của từng loại. Nhưng… lại không hiểu phải dùng như thế nào trong thực tế…

- Học về thiết kế mạng mô hình 3 lớp: Core/Distribution/Access… hiểu rõ vai trò của từng lớp, nhưng lại không thể design nổi hệ thống mạng cho 1 doanh nghiệp vừa và nhỏ (SMB), hay thậm chí ngay cả khái niệm SMB, ENT, … cũng còn rất mơ mơ hồ hồ.

- Và rất nhiều những điều tương tự …

Đã từng tự hỏi, là do đâu có phải là:

- Thiếu kiến thức về sản phẩm: Vâng, tuy rằng tôi đã được trang bị 1 hệ thống kiến thức nền tảng tuy nhiên lại không biết hoặc chưa hiểu được:

- Khái niệm Modular Switch (Catalyst 6500, Catalyst 4500, Nexus 7000, …): thế nào là linecard, là supervisor, là fans tray, là power supply, vv..

- Một Switch thế nào được gọi là “mạnh”, cùng các khái niệm để định nghĩa độ “mạnh” này của 1 thiết bị

Ví dụ: trên dòng Switch 3750-X: 160 Gbps switching fabric, 101.2 mpps forwarding rate, 10GbE uplinks, …

- Khái niệm về VSS trên dòng Switch 6500, Stack-Wise trên dòng Switch 3750 series, Flex-Stack trên dòng Switch 2960S (lưu ý, đây là những tính năng cực kỳ quan trọng trong thiết kế hệ thống mạng với nhiều đặc điểm nổi trội mà sẽ được đề cập chi tiết trong các bài viết sau).

- Các tính năng (feature) hỗ trợ trên từng dòng thiết bị là khác nhau do được thiết kế với những mục đích khác nhau, như: Switch 2960 series chỉ hỗ trợ các tính năng Layer 3 ở mức rất hạn chế so với Switch 3750/4500/6500 series do 2960 được thiết cho lớp Access …

- Đặc trưng của từng đối tượng khách hàng, ví dụ: khi thiết kế hệ thống mạng cho khách hàng là SMB thì sẽ rất khác với khách hàng Enterprise,…

- Chưa có kinh nghiệm thực tế… -> vậy phải làm sao để có ?? Học từ ai ?? Học ở đâu ??

Và tôi đã trải qua 1 đoạn thời gian mò mẫm, như bước đi trong 1 đường hầm tối tăm như thế, và cho đến bây giờ, tôi vẫn đang đi trong đường hầm, có khác chăng đó là đường hầm với một “tia sáng le lói” dẫn đường

Hiểu rõ những khó khăn đã từng trải qua cùng với mong muốn được chia sẽ, trao đổi và học hỏi nhằm làm giàu thêm về kỹ năng thiết kế mạng.

Xin phép được bắt đầu chuỗi bài viết chuyên đề “Thiết kế mạng, từ lý thuyết đến thực tiễn”.

p/s: Chưa biết tiếp theo như thế nào nhưng cứ update cái đã :gach:

microvn2012
07-10-2016, 19:57
vì bác thuongnguyen quá ham học hỏi mà môi trường làm việc chưa thỏa mãn được nên vậy mà. thực ra nó cũng khó vì chuyên môn của bác, hướng của bác thời điểm đó là đào quá sâu, trong khi thị trường doanh nghiệp VN mình ít có nhu cầu sâu mà cần rộng.

saibon
08-10-2016, 11:52
Đang chờ bác update bài viết đây, mà bác có thể post ở face hoặc web cá nhân của bác được không, chứ post ở forum thì để ý kĩ mới thấy được ^_^ ...

p/s: web cá nhân của bác ko duy trì nữa à

fisico
14-01-2017, 20:17
Dạo này khỏe không anh Thương. Làm 1 bài về wireless đi anh ơi :D.

mua*gio
14-01-2017, 21:58
hay quá :surrender:

HelloVietNam1990
17-01-2017, 16:45
Quá hay. Dù đã lâu nhưng rất bổ ích.

chendaguang
07-02-2017, 13:40
kiến thức rất hay mong bác phát huy nhiều thank bác

dknight
25-02-2017, 11:14
Hay quá, cám ơn it.thuongnguyen

AIDA64 Extreme
04-03-2017, 11:41
để dành đọc dần

chetcaday
13-03-2017, 17:47
cảm ơn bạn nhiều